You Are Here: Home » Văn hóa dân tộc » Phong tục tập quán » Khái lược về sự giao thoa ngôn ngữ Thái – Kinh

Khái lược về sự giao thoa ngôn ngữ Thái – Kinh

 

 Trần Vân Hạc

Người Thái là một trong 54 dân tộc, trong đại gia đình các dân tộc Việt Nam có tiếng nói và chữ viết rất gần với người Kinh. Người Thái và người Kinh đều là những cư dân lúa nước, có địa bàn cư trú gần nhau. Trong quá trình phát triển xã hội, qua giao thương và đoàn kết chống giặc ngoại xâm đã dần dần tạo nên sự giao thoa ngôn ngữ còn thể hiện rõ nét cho đến ngày nay.
Về mặt nhân chủng học, người Thái, Mường, Tày, Kinh… đều thuộc Mongoloid phương Nam. Đó là di duệ của người Việt cổ bản địa chủng Indonesian và cùng được chuyển hóa sang Mongoloid phương Nam. Cũng như người Kinh, người Thái là con cháu của Cha Lạc Long Quân và Mẹ Âu Cơ.
Sự giao thoa ngôn ngữ dày đặc nhất thể hiện qua lao động sản xuất, từ miền Bắc cho đến miền nam Trung bộ có rất nhiều địa danh mang tên: “Pu”, “Pù” – (núi), “Na”, “nà” – ruộng, “Tà” – bến nước. Ở những vùng có sự giao thoa văn hóa như Hà Bắc và quanh đền Hùng lớp địa danh này khá dày đặc (“Nà Lao”, “Nà Uy” v.v…). Ở vùng Phú Thọ cũng nhiều nơi gọi ruộng là “na” như ở Tứ Xã, Sơn Vi, Do Nghĩa, Hà Thạch, Thuỵ Vân. Làng Cao Xá có những khu đồng như: “Nà Pheo”, “Nà Giũa”, “Nà Đỏ” v.v… Một tấm bia trên Đền Hùng có 50% số địa danh được ghi là “na” như “Na Hưu”, “Na Dầu”, “Na Hoàng” v.v. Ở khu di tích Đền Hùng có 3 quả núi thiêng, “tam sơn cấm địa”. Trong đó có núi “Nỏn”, cạnh núi Nghĩa Lĩnh đặt tên theo ngữ hệ Tày – Thái: “Nỏn” là út vì thế quả núi còn tên nôm thuần Việt một âm tiết là núi Út… Những điều này có thể lý giải được vì dọc bờ hữu ngạn sông Thao – (Nặm Tao) xa xưa là địa vực cư trú của người Tày Thái cổ. Thục Phán cũng là gốc Tày – Thái quản lĩnh miền rừng núi phía trên nước Lạc Việt của các Vua Hùng.
Những từ như “mương”, “phai” chỉ những công trình dẫn thủy nhập điền cho đến nay vẫn phát âm đồng nhất. Có những từ đã biến âm đôi chút hoặc trở thành từ ghép Thái – Việt như “tông” – đồng, “đo đạc” – tạc, “đòn càn” – can, “mưa phùn”, “dao pha”, “cày” – tháy, “chạc” (dây thừng) – chược.
Tên địa danh cũng có rất nhiều từ tương đồng hoặc còn giữ nguyên bản như: “Chiềng” là vị trí trung tâm ở một mường lớn, (Chiềng là thủ phủ của một mường, nhiều nơi phát triển thành thành phố lớn hoặc thủ đô của quốc gia) – (tất nhiên trong lịch sử người Thái, ngoài “Chiềng” mang ý nghĩa như trên là phổ biến, nó cũng có ngoại lệ như là: “Chiềng Pấc” là tên một mường phìa của Châu Mường Muổi, “Chiềng Cang” là tên một mường phìa của Châu Mường Mụa; trong sử sách, người Thái gọi nước Lào là Chiềng Đông, Chiềng Tòng). Nay còn có nhiều thành tố “Chiềng” ở nhiều nơi như: Hà Nội có “Chiềng Lôi” (Cổ Loa), “Chiềng Vậy” (Hoài Đức). Phú Thọ: “Gò Chiềng” (Lâm Thao), “Chiềng Ninh” (Phù Ninh). Hà Nam: “Chợ Viềng” (Phủ Giầy). Sơn Tây: “Chiềng Tăng”. Vùng nông thôn miền Bắc còn không ít địa danh có từ “Chiềng”. Nhưng thưa dần vào phía Nam: “Chiềng Giang” (O Lâu) Quảng Trị…
Thành tố “Viềng” cũng rất phổ biến, “viềng” có nghĩa là thành luỹ quân sự, nơi bảo vệ “Chiềng” hoặc biên cương, đất nước. Trên viềng thường có các các vị trí quân sự giống như là lô cốt hay chòi canh gọi là “Che”. Ví dụ tại “Viềng Lôi” (thành Cổ Loa) có ba “che”, có tên là “Che noóc”, “Che tò” và “Che cuông” (tiếng Thái có nghĩa là “Che ngoài”, “Che nối tiếp” và “Che trong”. “Che”: tiếng Thái cũng có nghĩa là góc, mà các “Che” quân sự này cũng đặt tại các góc như các đồn tiền tiêu). Danh từ “Chiềng”, “Viềng” phát triển rộng khắp ở nhiều nước Đông Nam Á. Lý giải về vấn đề này giáo sư Lê Trọng Khánh cho rằng: “Hiện tượng phân bố địa danh có từ Chiềng ở trên, không còn nghi ngờ sự thiên di của một bộ người Việt cổ làm lúa nước, ở vùng bực thềm sông Hồng lên phía tây với văn hóa lúa nước và văn hóa đồ đồng Đông Sơn.”.
Trong mọi mặt đời sống sinh hoạt, cũng có rất nhiều từ còn giữ nguyên bản, tương đồng hoặc trở thành từ ghép. Trước hết “Vua Hùng” là phiên âm của một từ Việt cổ: Vua – Bua – Bô – Pô = (bố); Hùng – Khun = Cun = Thủ lĩnh. Vua Hùng = Bố của các thủ lĩnh = Thủ lĩnh tối cao. Hoặc từ “Thục Phán” (tiếng Thái là “Tục Pán”) có nghĩa là chiếm đất, là mở mang bờ cõi…
Có thể chia sự giao thoa ngôn ngữ Thái, Kinh ra một số nhóm: nhóm phiên âm trực tiếp, nhóm này chỉ liệt kê các từ thông dụng và không có từ khác thay thế; nhóm nguyên nghĩa đi kèm nhau; nhóm cận nguyên âm và vần; nhóm phụ cận vần và các nhóm khác.
Trước hết là nhóm phiên âm trực tiếp, là nhóm những từ thông dụng, không có các từ khác thay thế: “bàn” (bạc) – ban, “bản” – bàn, “chọn” – chọn, “quen” – quẻn, “việc” – việc, “bể” (biển) – pể, “mương” – mương, “phai” – phai, “nàng” – nàng, “ngân” (tiền) – ngân, “an” – yên, “dệt” (vải) – dệt …
Những từ trong nhóm nguyên nghĩa đi kèm nhau (những từ này là từ ghép, một từ tiếng Thái với một từ Việt): “áo xống”, “béo múp”, “bừa phứa”, “chim chóc”, “chó má”, “đòn càn”, “hang thẳm”, “quát nạt”, “xin xỏ”, “xa lắc”, “súng ống”, “giá cả”, “mặt nạ”, “dao pha”, “tre pheo”, “chân thật”.…
Nhóm cận nguyên âm và vần, (gồm những từ có cách phát âm gần nhau về âm và vần): “Ánh” – xánh, “bánh” – pảnh, “bào” – pao, “bão” – pảo, “bắt” – pắt, “bè” – pe, “bóc” – pọc, “bón” – pòn, “bọt” – pọt, “bố” – pỏ, “bốc” – chốc, “chan” – chán, “cá” – pá, “lôi” – lối, “lo” – ló, “còng” – cỏng, “cây” – mạy, “gốc” – cốc, “han” – hán, “bắn” – bén, “nỏ” – nả, “bó” – pò, “bói” – pòi, “bón” – pòn, “bọt” – pọt, “bốc” – chốc, “gang” – khang, “bá” – pả, “vải” – phải, “mận” – mặn, “nhót” – lót, “bể” – biển, “chống” – chông, “đòi” – toi…
Nhóm phụ cận vần và các nhóm khác (nhóm này không tính về thanh điệu, gần nhau về âm và vần): “bát” – pẹt, “bắt” – chặp, “bơi’ – loi, “buộc” – phục, “buông” – vang, “cạp” – cọp, “chấm” – chẳm, “lống” –puống, “chạc” – chược, “đáp” – chắp, “chẻ” – phả, “chích chòe” – chí chọe, “chốn” – chòn, “chủ” – chảu, “đập” – tặp, “cục” – cọc, “dê” – bè, “cửu – càu, “đường” – tang, “giường” – chong, “gắp” – cạp, “buộc” – phục, “buông” – vang, “chẻ” – phả, “đến” – ten, “kẹp” – nịp, “căng” – kếnh, (chim) “cuốc” – cu vắc, “chốn” – chòn, “cổ” – co, “lưng” – lằng, “coi” – moi. “cũ” – cảu…
Có thể liệt kê rất nhiều những từ, ngữ có sự tương đồng như vậy. Chính sự hình thành và phát triển nhà nước từ rất sớm, trong đó người Kinh và người Thái đóng vai trò quan trọng, cùng nền văn minh lúa nước phát triển và công nghiệp đá, đúc đồng, làm giấy… và hệ thống giao thương rộng khắp với nhiều vùng lãnh thổ đã thúc đẩy quá trình giao thoa giữa hai ngôn ngữ Thái, Kinh. Điều đó càng làm cho ta hiểu thêm về lịch sử các dân tộc và tăng cường tình đoàn kết anh em trong đại gia đình các dân tộc Việt Nam.

 

About The Author

Number of Entries : 1834

Leave a Comment

© 2011 Powered By LenStudio.Net

Scroll to top