You Are Here: Home » Văn hóa dân tộc » Phong tục tập quán » Nhà thơ dân tộc Thái Lò Văn Mười

Nhà thơ dân tộc Thái Lò Văn Mười

(Thạc sĩ Lò Mai Cương, con gái nhà thơ Lò Văn Mười – bên phải, cùng thạc sĩ Hoàng Kim Ngọc, giấm đốc TTGDTX tỉnh Sơn La)

Phạm Quang Trung

Tháng 10 năn 1972, tôi lên nhận công tác ở Tây Bắc. Trong tâm trí của không ít người trước kia, Sơn La gắn liền với cảm giác e ngại, rùng rợn. Cái câu Nước Sơn La, ma Vạn Bú bao đời nay có sức đe dọa thật ghê gớm! Nhưng đối với thế hệ chúng tôi khi ấy, mảnh đất này thật giàu tiềm năng, và đặc biệt rất thiêng liêng.Vừa đặt chân lên đất Sơn La hôm trước, ngay hôm sau tôi tới thăm Khu di tích Nhà tù. Xúc động, tôi chậm rãi bước trên con đường năm xưa những người tù cộng sản từng đi. Trước những tang chứng của tội ác kẻ thù, tôi lặng người vì căm phẫn và đau xót. Những hiện vật quá khứ đặc biệt nói  nhiều với tôi về các đảng viên cộng sản kiên cường, về Chi bộ nhà tù sáng suốt. Cây đào Tô Hiệu trồng khi xưa vẫn đứng đó, quân thù tàn ác và xảo quyệt hoàn toàn bất lực. Màu xám xịt của nhà tù càng làm nổi bật sắc hồng tươi của cành đào mỗi độ xuân sang.

Giữa muôn vàn sự kiện lịch sử quan trọng, tại đây, lần đầu tiên tôi được biết tên ông Quản Mười, với những công lao gắn liền với sự lãnh đạo của Chi bộ nhà tù. Bác đến với Cách mạng từ hoàn cảnh riêng của mình. “Tôi là người dân tộc thiểu số mà con đường đi theo Đảng quả thực rất éo le – Một lần bác chân thành bộc bạch – Xuất thân trong một gia đình thuộc tầng lớp được hưởng ít nhiều đặc quyền đặc lợi của chế độ cai trị địa phương, thuở nhỏ tôi ít chịu cảnh lầm than nhục nhã vì bị đè nén cướp bóc như phần đông đồng bào tôi. Lớn lên, tôi sống trong đầy đủ và được học hành đôi chút. Bước vào tuổi trưởng thành, đời làm lính  đem lại cho tôi quyền hành bổng lộc”. Bác Lò Văn Mười đi lính cho Pháp từ năm 1931 đến 1944, đã lần lượt được thăng chức từ cai, đội đến phó quản khố xanh, nhưng Chi bộ cộng sản nhà tù trong thời gian đó đã giác ngộ bác đi theo cách mạng. “Nói như vậy, – Bác hồi tưởng tiếp – không phải tôi không bị khinh rẻ, ngược đãi. Có điều so với ách áp bức của bọn thực dân và bọn chúa đất đè lên cuộc sống của dân nghèo thì trường hợp của tôi thật chẳng đáng kể. Thế mà…tôi đã tiếp nhận ánh sáng của Đảng của Cách mạng” (Rút trong Tập Từ bóng tối…ra ánh sáng – Nxb Thanh Hóa, 1997, tr.4 – 5). Với những thành tích cách mạng to lớn từ trước Tổng khởi nghĩa Tháng Tám năm 1945, bác vinh dự được Chủ tịch nước truy tặng Huân chương Độc lập Hạng Ba vào năm 1998.

Tuy nhiên, mãi nhiều năm sau, tôi mới được biết bác Lò Văn Mười còn sáng tác thơ bằng tiếng Thái, nhiều mà hay, được các nhà thơ dân tộc thiểu số Tây Bắc cùng thời và sau này như Cầm Biêu, Hoàng Nó, Lò Văn Cậy…đánh giá cao. Thì ra, bác đã là hội viên Hội Nhà văn Việt Nam ngay từ buổi đầu thành lập năm 1957. Tôi vội lật giở cuốn Nhà văn hiện đại in năm 1997. Thật đáng buồn, viết về bác vẻn vẹn chỉ mươi dòng. Quá sơ sài! Ảnh cũng  không có. Lần tái bản nhân kỷ niệm 50 năm thành lập Hội 2007 vừa rồi, tưởng được bổ sung thêm, ai dè lại vẫn y nguyên như trước. Có chỗ còn sai nữa. Cả hai lần xuất bản trên chỉ có năm sinh của bác, không có năm mất. Tôi không chỉ thấy buồn mà còn thấy tiếc! Thời buổi thông tin, chỉ cần nhấc điện thoại lên thì có gì muốn biết mà không thể biết cho được. Trách cứ ai đây? Tôi liền bắt tay vào tìm hiểu thêm cuộc đời, nhất là sự nghiệp thơ ca mà bác Lò Văn Mười đã để lại. Nhân đây, xin bày tỏ lòng biết ơn tới gia đình bác cùng Thạc sỹ Hoàng Kim Ngọc, giảng viên Trường Cao đẳng Sư phạm Sơn La đã cung cấp nhiều tài liệu  quý báu để tôi có thể hoàn thành bài viết này.

Ngay từ tấm bé, khi tập tọng biết đọc, nhà thơ tương lai đã mê truyện, đặc biệt là truyện thơ dân gian như… ong mê nhụy hoa. Bác tìm đọc những truyện thơ của đồng bào Kinh được dịch ra tiếng Thái như Càn Long du Giang Nam, Hoàng Trừu, Nhị Độ Mai, Tống Trân Cúc Hoa…Những con người trung thực, đức độ, nghĩa khí được đề cao. Những kẻ phản trắc, tàn bạo, xảo quyệt bị lên án. Ý thức về sự công bằng ở đời cứ tự nhiên ngấm sâu vào lòng bác tự lúc nào. Đặc biệt, bác ngấu nghiến đọc anh hùng ca Trương Han của dân tộc mình. Nghe đâu, đây là con người có thực với những chiến công có thực. Trong tác phẩm, Trương Han được kỳ vĩ hóa nửa người nửa thần. Nhưng có lẽ bác khoái nhất là những phút giây được nghe kể truyện cười dân gian Thái. Nhân vật Khun Hon chiếm được cảm tình của bác hơn cả. Khun Hon sao mà mưu trí, sao mà thông minh vậy! Mà tiếng cười mỉa mai lại nhằm vào bọn phìa tạo mới thú vị chứ! Kẻ ác ngậm đắng nuốt cay, giận đến nổ con ngươi mắt mà chịu không làm gì nổi. Bác lấy làm thích chí lắm!

Lò Văn Mười còn dành cho phương ngôn tục ngữ Thái rất nhiều tình cảm với niềm tin nhất quán: Quám chiến láng báu váng xia la (Câu chuyện xưa không để vô ích). Nào là: Báu ốt đảy năm bó (Nghĩa là: Không bịt nổi nước nguồn, không gói được khói bay). Rồi: Pai xưa, pôpj ma năy (Tránh hổ gặp lang sói), Hoi đâư chăng bấu kin nam (Ốc nào ốc chẳng ăn bùn). Và đây nữa: Báu lục sư đẩy háp xỉn (Không biết chữ thì gánh váy đàn bà), Năm thuổ hua cọ pay, xưa kin cốn cọ pay (Nước ngập đầu cũng đi, hổ vồ người cũng đi)…Những câu nói ngắn gọn, thâm thúy lại giàu hình ảnh luôn sống trong tâm trí bác. Ý thức về sức mạnh của ngôn từ nảy sinh từ đó. Có điều, không gì hợp với tâm hồn bay bổng của bác bằng những bài dân ca Thái ngọt ngào. Chẳng hạn, bài hát sau: Bok tẩu kiểu bok tanh/ Báu đảy pên mía bánh ta pên me nọi/ Me nọi khỏi hoi bai/ Me bai khỏi cốm đáp/ Me nọi khỏi tứ háp bung món/ Khỉ tứ con bung lẩu/ Tứn chậu tắc nặm haử mía chẩu suối (Tạm dịch: Hoa bầu cuốn hoa dưa/ Không được làm vợ quý xin làm vợ lẽ/ Vợ lẽ là tôi tớ roi mây/ Vợ lẽ là tôi tớ lưỡi gươm/ Vợ lẽ là tôi tớ đội gánh bung dâu tằm/ Là tôi tớ đội chiếc bung rượu/ Sáng dậy múc nước cho vợ cả rửa chân). Chất trữ tình trong thơ bác về sau được khơi nguồn từ chính những bài ca quen thuộc như thế.

Sau này, khi tiếp nhận ánh sáng của Đảng, bác được đọc tờ Le Travail (Lao động) do Khuất Duy Tiến làm chủ bút, và tờ Đời nay chủ bút là Trần Huy Liệu. Đặc biệt là báo Suối reo do chính Chi bộ nhà tù Sơn La chủ trương. Lúc trở về già, mỗi khi nhớ lại, không ít bài trong tờ báo cách mạng nổi tiếng này vẫn còn khiến lòng bác rưng rưng. Như một đoạn trong bài Chúc xuân của Mậu Chi: Một tôi mừng đường Sơn la dốc tựa cầu vồng/ Đẩy xe gối mỏi lưng còng toát cả mồ hôi/ Hai tôi mừng kíp vào đá lò vôi/ Đứt dây đá rung đời ơi là đời/ Ba tôi mừng mấy anh làm bếp, làm bồi/ Đánh xoong cạo chảo con người khá lọ lem/ Bốn tôi mừng phần sở “ô ten”/ Gánh nhiều phân ngựa có phen gẫy sườn… Sức mạnh ngôn từ giờ được gắn thêm sức mạnh tuyên truyền, tạo ra những vần thơ cháy bỏng lòng yêu nước, tinh thần cách mạng của người cán bộ – nhà thơ Lò Văn Mười khi tham gia kháng chiến chống thực dân Pháp và chống đế quốc Mỹ những năm về sau. Có thể kể đến những tác phẩm tiêu biểu như Tay chớt mương (Thái cứu quốc), Chiêng Ly toi quam xon Pú Hồ (Chiềng Ly nghe theo lời Bác Hồ), Khánh len mương lum (Thi đua cùng đất nước)…

Là một cán bộ từng giữ những chức vụ quan trọng như Trưởng Ty Thông tin Tuyên truyền, Chủ tịch Ủy ban kháng chiến hành chính, Chánh án Tòa án Tỉnh Sơn La, Giám đốc Sở Giáo dục Khu tự trị Tây Bắc…, thơ văn với bác Lò Văn Mười không thể tách rời nhiệm vụ cách mạng trong từng giai đoạn. Tính tự sự của thơ bác là khá rõ. Hồi ký bằng thơ Tết năm Bính Tuất ra năm Đinh Hợi (1946 – 1947) biểu hiện rõ khuynh hướng này. Bác viết về sự hưởng ứng chủ trương Tiêu thổ kháng chiến của Chính phủ. Đồng bào các dân tộc đồng lòng nhất chí thực hiện, với niềm tin tưởng vững chắc vào thắng lợi của cách mạng. Ông Phạm Văn Hảo – Nguyên Viện trưởng Viện bảo tàng Cách mạng Việt Nam có nhận xét về tập hồi ký bằng thơ này: “Tự tay đốt nhà là một điều không bao giờ có. Nhà là nơi che mưa, nắng, là nơi ăn ngủ, nơi tụ tập vui thú gia đình. Do lòng tuyệt đối tin tưởng vào đường lối của Đảng, nhân dân Tây Bắc nói chung, nhân dân huyện Phù Yên nói riêng đã tự tay đốt nhà mình, để thực hiện tiêu thổ kháng chiến. Lúc đó nhân dân Tây Bắc vừa được nhìn lá cờ đỏ sao vàng thì giặc Pháp từ Vân Nam Trung Quốc đánh chiếm trở lại. Tất cả những hành động trên đây chứng tỏ nhân dân Tây Bắc tuy mới được thở không khí độc lập, tự do trên một năm đã rất anh dũng chống giặc, thà chết không chịu làm nô lệ một lần nữa”. Một nhân chứng lịch sử đánh giá một tác phẩm thấm đẫm tính lịch sử, ta hoàn toàn có thể tin được.

Tôi muốn nói nhiều hơn tới vở kịch thơ của Lò Văn Mười có tên Cô gái miền núi được hoàn thành năm 1948, giữa lúc cuộc Kháng chiến chống thực dân Pháp bước vào giai đoạn quyết liệt, nhằm tập trung mọi nguồn lực cho chiến thắng. Ta không thể không liên tưởng tới trường ca trữ tình nổi tiếng của dân tộc Thái Sống trụ xon xao. Chỉ có điều, các nhân vật trong Cô gái miền núi được sống trong một thời đại khác, khi cả núi rừng quê hương đã đứng lên theo Đảng để thực hiện cuộc đổi đời mang tính lịch sử nghìn năm có một. Không còn nỗi bi lụy mà chỉ thấy vang lên tiếng nói thật hào sảng. Nhà thơ tập trung khắc họa những phẩm chất cao quý của một người phụ nữ Thái tên là Iền. Cô yêu Quàng Phương tha thiết. Cả gia đình và bà con đều vun đắp cho mối tình đẹp, rất xứng đôi vừa lứa này. Nhưng vì nghĩa lớn, người yêu của cô phải ra trận. Cuộc chia tay thật bịn rịn. Iền hát: Buồn thay khóm hành sắp đem đồ vàng úa/ Hai yêu thương giặc Tây ngăn trở/ Sắp nên vợ thành chồng xa cách mỗi phương. Chàng trai đáp lại: Iền yêu hỡi – Hòn ngọc quý của anh/ Giặc cướp mương đôi ta xa cách. Động cơ hành động chỉ có một và thật rõ. Trai gái bản trên mường dưới vì thế chỉ một mực hướng theo cách mạng: Cờ vàng bay đang tha thiết gọi/ Người thanh niên độ tuổi sức hăng… Cứu nước ở đây cũng chính là cứu mình. Vì thế, tác giả  đã để cho Iền cũng tham gia kháng chiến hợp với hoàn cảnh riêng của mình. Cô làm nữ cứu thương. Và, cô đã gặp lại người yêu trong tình huống: Quàng Phương bị thương nặng, máu me  đầy người, đầy mặt. Iền không kìm nổi lòng mình, thốt lên: Ôi! Quàng Phương, anh yêu quý/ Vết thương sao, còn nhớ em không? Hiện lên trong tâm trí của cô là hình ảnh một chiến sỹ quả cảm, quyết sống mái với quân thù: Trong rừng Chiềng Đông anh đang chiến đấu/ Với quân thù sống chết nhiều phen/ Tây giặc thua chạy lên Nà Sản/ Anh xung phong đuổi đánh không ngờ! …Có thể nói, kịch thơ Cô gái miền núi của Lò Văn Mười là một bản tráng ca xuất hiện khá sớm trong thời kỳ Kháng chiến lần thứ nhất của dân tộc, mang sức cổ vũ lớn lao. Cùng với nhiều tác phẩm của nhiều tác giả dân tộc ít người tiêu biểu khác, nó góp phần khẳng định những đóng góp riêng quý giá của thơ văn các dân tộc thiểu số trong buổi đầu dựng xây một nền văn học Việt Nam thống nhất trong đa dạng.

About The Author

Number of Entries : 2233

Leave a Comment

© 2011 Powered By LenStudio.Net

Scroll to top