“Tiếng hát làm dâu” – một khúc ca bi tráng

Trần Vân Hạc

“Tiếng hát làm dâu” (Gầu Ua nhéng – Gâux Uô nhangs) – trường ca của dân tộc Mông, là một câu chuyện bi ai về kiếp sống của người phụ nữ xưa, khi con người không có tự do hôn nhân, không được làm người. “Tiếng hát làm dâu” không chỉ là lời khóc than, oán trách cuộc đời, số phận khốn khổ, mà đó còn là tiếng thét đòi tự do, đòi quyền sống của người phụ nữ. Cùng với những tác phẩm nổi tiếng như: “Tiễn dặn người yêu” của người Thái, “Khảm hải” của người Tày… “Tiếng hát làm dâu” có vị trí xứng đáng trong nền văn hóa dân tộc.
Nhà thơ, dịch giả Nguyễn Khôi, người đã từng công tác ở Tây Bắc nhiều năm, từng dịch “Tiếng hát làm dâu” theo thể song thất lục bát từ năm 2002, được nhà xuất bản Kim Đồng in toàn văn trong tập “Út Ỏ về Kinh” tới 34.610 bản phát hành rộng rãi cho biết: một tối mùa thu Hà Nội đến thăm nhà thơ Trần Lê Văn, nhà thơ kể rằng: trong một lần tiếp một nữ thi sĩ Pháp, bà ta có hỏi: “Cái gì sâu sắc nhất trong thơ Việt Nam ?” Nhà thơ Trần Lê Văn đọc một đoạn “Tiếng hát làm dâu” (dân tộc Mông ở Việt Nam) cho bà ta nghe (dịch ra tiếng Pháp), bà ta thốt lên: “Chưa được nghe một áng thơ nào nói về thân phận con người (phụ nữ) sâu sắc như thế !”.
“Tiếng hát làm dâu” được cấu trúc thành chương, đoạn khá rõ, mỗi chương, đoạn thể hiện một nội dung, một sự việc, một cách nghĩ. Bởi vậy lôi cuốn người đọc ngay từ những dòng đầu tiên. Ngay từ đầu truyện, cô gái Mông ngỡ ngàng:
Em đang ở nhà em không biết/ Nhà trai sang la liệt dù, ô/ Dù, ô đã ngoắc cột nhà/ Thế là thành vợ, thế là làm dâu.
Người ta đi lấy chồng với bao niềm vui hy vọng, còn ở đây cô gái đi làm dâu như kiếp nô lệ, ngựa trâu:
Như con trâu nặng nề đeo ách/ Như thân trâu măng buộc cọc tre/ Kéo cày từ sớm đến khuya/ Phận làm dâu chẳng có mùa nghỉ ngơi.
Đã phải làm việc khổ cực cho nhà chồng, lại phải chịu cái cảnh bị ghẻ lạnh:
Vợ chồng e chẳng chung chăn/ Nhà không chung mái lệ thầm đêm đêm.
Trong cảnh sống nô lệ mịt mù không có tương lai ấy, cô gái không khỏi có những lúc tìm lối thoát bằng cách tiêu cực:
Chỉ có thác: ve trời lột xác/ Chết đi thì thoát ách trâu măng/ Xác ve mình nhẹ lâng lâng/ Trâu măng tuột sẹo tâng tâng băng rừng.
Tất cả chỉ vì nghèo khổ, vì cha mẹ tham của:
Mẹ bảo: đã nhận tiền của họ/ Mày không đi cha sả thịt mày/ Đã xơi cơm rượu nhà người/ Không đi, cha sẽ cầm roi đuổi mày/ Chiếc roi đồng ngang trời vun vút/ Đuổi con đi để được bạc tiền.
Cô gái cưỡng lại sao được khi sinh ra làm phận gái:
Mẹ sinh em phận làm con gái/ Lọt mắt người mối lái buộc duyên.
Cái cảnh làm dâu của cô gái sao mà khổ cực đến thế, nhà chồng tìm mọi lý do để hành hạ nàng:
Xuống suối sâu cõng thùng nước sạch/ Mẹ chồng chê nước đục, mắng em/ Nấu cơm chẳng dám nếm xem/ Mẹ chồng chửi: nó nếm liền ba muôi.
Thậm chí bị coi như súc vật:
Không cho bát bắt em ăn bốc/ Đuổi vào rừng ngoài dốc đầu sông.
Cái cảnh làm dâu sao mà ngang trái, mà bản chất là nô lệ cho nhà người, đâu có phải là tổ ấm, đâu có phải là vợ chồng:
Lẻ loi đơn chiếc cũng buồn/ Như thân gái goá cày nương không bờ/ chiều tối lũ chim cò về tổ/ Ta đêm đêm trong cửa nhà người/ Sáng ra chim hót chim chơi/ Ta thì trong bếp mồ hôi ròng ròng.
Người ta có chồng thì được chồng yêu chiều chăm sóc:
Người có chồng cuối năm sắm tết/ Đi chợ chơi, váy đẹp tung tăng.
Còn cô gái:
Ta như gậy đuổi lợn hoang/ Nhà chồng coi rẻ chẳng màng chẳng chăm/ Chim cu lượn trăm vòng bên núi/ Cả nhà chồng hắt hủi, thương đâu/ Tuổi xuân đượm những đớn đau/ Buồn da héo thịt làm dâu nhà người/… / Kiếp làm dâu xưa, ôi tù tại gia.
Cô gái đâu có cam chịu mãi. Có lúc cô phản kháng lại thói độc ác của mẹ chồng, song lời phản kháng ấy cũng bị chìm trong đêm đen của kiếp làm dâu gả bán:
Bà ơi, tôi đã dâu nhà/ Mà sao coi rẻ như là hươu đen/ Sao lại nói chẳng nên vợ quý/ Bởi không ưa kiếm cớ nói ngang/ Xin mời Nhà Ngoại sang bàn/ Nói hết nhẽ, tôi sẵn sàng về ngay.
Không cam chịu số phận, cô gái trốn chạy rồi bị bắt lại:
Ba trăm roi bật máu trào thịt da/ Chạy chẳng thoát người ta cột chặt/ Gậy họ phang họ đập kinh người/ Tưởng chừng đã chết đến nơi/ Thân nàng dâu mới rã rời đớn đau.
Bi quan, chán nản, không có lối thoát, cô gái muốn tìm đến lối thoát tiêu cực, chạy trốn khỏi cái địa ngục trần gian đang hàng ngày hành hạ, đày đọa cô:
Này đây lá ngón bên bờ/ Làm cho một nắm, nuốt cho xong đời/ Lá thuốc độc cay ơi cay lắm/ Lá thuốc đau bỏng đắng buồng gan/ Cho thân quằn quại quay cuồng/ Hồn lìa khỏi xác thoát làm dâu… thôi !
Bởi cô gái biết rõ:
Nếu còn sống còn là nát ruột/ Lá ngón đây thà nuốt cho xong/ Đắng cay hơi thở cuối cùng/ Chết rồi, có ngó khó chừng nhận ra ?
Cô gái ao ước sẽ gặp người mình yêu trong một thế giới tốt đẹp:
Hỡi bạn tình, một phương ta chết/ Mẹ cha thương: một huyệt chôn chung/ Gà có đôi. Rồng có Rồng/ Hẹn anh…lối cõi trời trong em chờ…/ Có hoa ban, hoa mơ nở đẹp/ Ta thong dong chơi tiếp chợ Phiên/ Trời thương cho “ tái nhân duyên”.
Đó là sự phản kháng mạnh mẽ và tích cực của cô gái khi đã tự tạo ra những cuộc “vượt ngục về tinh thần”. Cô khát khao một thế giới được tự do luyến ái, được sống đàng hoàng như một con người nhưng lễ giáo phong kiến miền núi cao ngặt nghèo nặng nề cổ hủ, lại được bọn quan lang, phìa tạo tiếp tay, nên tia hy vọng làm người ấy của cô chỉ có ở cõi chết. Lối thoát đó khiến ta xót thương vô hạn cho kiếp người phụ nữ trẻ ở vùng cao, phải đi làm dâu trong chế độ cũ. Thế giới tốt đẹp mà cô gái mơ ước nào có cao sang gì, chỉ bình dị là “gà có đôi”, ở nơi “có hoa ban, hoa mơ” nở đẹp mỗi khi xuân về, đôi trẻ được đi chơi chợ phiên ngập tràn hạnh phúc lứa đôi. Để rồi khi giật mình tỉnh mơ, cô căm hận phỉ nhổ vào cuộc sống đớn đau ê chề vừa phải trải qua, hay đúng hơn là phỉ nhổ vào chế độ phong kiến tàn ác, bất công:
Hờn căm , khạc nhổ xuống trần/ Con đường nước mắt, con đuờng khóc than.
Đến khi ta đọc truyện “Vợ chồng A Phủ” của Tô Hoài, ta càng thấm thía thân phận làm dâu của người phụ nữ Mông. Nhà thống lý Pá Tra giàu có vậy mà Mỵ vẫn sống “lầm lũi như con rùa trong xó cửa”, đi đâu làm gì mặt cũng cúi gằm, buồn rười rượi, hỏi ra mới biết đó là cô con dâu gán nợ. Cuộc sống bị vùi dập tưởng như vô vọng, sống làm dâu, chết làm ma nhà chồng. Sống lay lắt vật vờ nhục nhã không bằng con trâu con ngựa. Vậy mà khát vọng sống, khát vọng được yêu thương, được làm người vẫn âm ỉ cháy bỏng trong lòng Mỵ, khiến Mỵ đã vùng lên cứu A Phủ, rồi rời địa ngục Hồng Ngài, sang khu du kích Phiềng Sa… Mỵ đã tự đổi đời, tự cứu lấy mình. Tiếc rằng cô gái trong “Tiếng hát làm dâu” chưa được cái may mắn đó, thực tại vẫn bế tắc, nên tác phẩm vẫn là tiếng kêu cứu bi thương khẩn thiết của kiếp nô lệ. Vì vậy mà giá trị hiện thực và giá trị tố cáo của tác phẩm càng sâu sắc.
“Tiếng hát làm dâu” không chỉ lôi cuốn người đọc, người nghe bởi những tình tiết éo le về thân phận người phụ nữ dưới chế độ phong kiến, mà còn bởi nghệ thuật tả cảnh và tả tình nhuần nhuyễn, tinh tế, làm tăng giá trị biểu cảm. Cũng bởi thế, ngày nay, khi người Mông đã được làm chủ cuộc sống của mình, nhưng mỗi khi “Tiếng hát làm dâu” được cất lên, mọi người đều thấm hơn giá trị những gì mình có hôm nay và thêm trân trọng, nâng niu những gía trị tốt đẹp của cuộc sống mới phải đổi bằng bao mồ hôi và máu của bao thế hệ mới có được. Đúng là có “ôn cũ” ta mới có thể “tri tân” một cách đầy đủ. Tuy kết thúc của “Tiếng hát làm dâu” còn mang tính bi quan, yếm thế, nhưng vẫn chứa đựng một niềm tin và hy vọng vào một ngày mai tươi sáng. Những cô gái ấy, những cô Mỵ trong “Vợ chồng A Phủ” ấy sẽ có ngày đứng lên đấu tranh giành quyền sống khi có ánh sáng của Đảng chiếu rọi, bởi họ thấy rõ bản chất xấu xa, tàn bạo của chế độ phong kiến. Từ trong sâu thẳm đau đớn của người phụ nữ xưa, vút cao tiếng thét lên án thói hư tật xấu cùng tội ác, chà đạp lên nhân phẩm của họ. Đấy chính là khúc ca bi tráng và là nét đẹp đặc sắc làm cho “Tiếng hát làm dâu” sống mãi trong kho tàng văn hóa Mông nói riêng và kho tàng văn học Việt Nam nói chung.

Viết cảm nhận

*