BNN – NGƯỜI VÀ ĐẤT THĂNG LONG – MỘT THỜI VÀ MÃI MÃI
Người Hà Nội không ai có thể quên hào khí ông cha ngàn năm xây dựng, khi kinh thành cổ tích linh thiêng, dấu tích còn kia.
Kỷ niệm vườn hoa, ghế đá công viên, căn nhà ống chật chội phố cổ, thênh thang tiếng nói cười tình yêu, bạn hữu… ai có thể quên nổi một thời oai hùng, lãng mạn.
Đọc Nguyễn Nguyên Bảy trong tập thơ mới nhất “Kinh Thành Cổ Tích”, thấy tục lệ phong kiến, quan điểm mới tự do…, có thay đổi hay giữ nguyên nếp cũ, cũng từ tình yêu mảnh đất Rồng thiêng.
Những trái tim nóng dành cho hồn Thăng Long muôn đời bất diệt. Những câu chuyện cổ tích ngàn đời và mãi mãi, không chỉ sâu đậm trong trái tim người Hà Nội khi chạm vào hồn thiêng đất nước, khi nhắc tới Thủ đô ngàn năm tuổi.
Hà Nội chiến tranh – Hà Nội hòa bình.
Một Hà Nội tưởng như bị dìm trong biển lửa, hôm nay chờ đón đại lễ kỷ niệm 1000 năm tuổi.
Hà Nội cháy, khói lửa ngập trời. Hà Nội hồng ầm ầm rung, Hà Nội vùng đứng lên! Hà Nội vùng đứng lên! Sông Hồng reo Hà Nội vùng đứng lên! Hà Nội đẹp sao! Ôi nước Hồ Gươm xanh thắm lòng. Bóng Tháp Rùa thân mật êm ấm lòng. Hồng Hà tràn đầy, Hồng Hà cuốn, ngàn nguồn sống tràn đầy dâng. Hà Nội vui sao. Những cửa đầu ô. Tíu tít gánh gồng đây Ô Chợ Dừa, kia Ô Cầu Dền làn áo xanh nâu Hà Nội tươi thắm. Sống vui phố hè. Bồi hồi chàng trai, những đôi mắt nào. Quanh co chen quanh rộn ràng Đồng Xuân, xanh tươi bát ngát Tây Hồ. Hàng Đào ríu rít Hàng Đường, Hàng Bạc, Hàng Gai… (Người Hà Nội – Nguyễn Đình Thi)
“Nhật Ký Rồng Bay” là cách đặt tên của người viết bài nói về một trong những trang thơ, trong tập thơ Kinh Thành Cổ tích của Nguyễn Nguyên Bảy vừa ra mắt đầu tháng 8 – 2010, đăng trên Thể Thao Ngày Nay số 193, ra ngày chủ nhật 15-8-2010.
Tôi đi theo hương thu – hồn tình sét đánh. Xóm Hạ Hồi thoảng hương sữa lạnh – hoa từ vú lụa thơm ra.
Tôi rảo quanh lặng lẽ Nguyễn Du – Cửa sổ nhà ai bóng Thuý.
Tôi vòng ra phố Huế – Chật khoang tàu điện gió thu.
Những mái phố ca trù – Cửa chợ hôm trễ yếm.
Tiếng rao tẩm quất nhạc xèng – Em ở đâu giữa Hà Nội dọc ngang – Ba sáu phố phường khép mở.
Một nửa của tôi ơi… Hàng Đào Hàng Lược Hàng Vôi
Nợ tình nỡ nao Cấm Chỉ
Xin nghe tôi một lời chém đá
Đêm nay rồi đêm mai – Thu nay rồi thu mai – Năm nay rồi năm mai…
Em là gió anh cũng tìm thấy gió
Thu dẫn tôi vào ngõ nhà em Khu cổ tích thuyền Rồng
Hồ Thu vua trả kiếm đâu thành quách Nhật đài Nguyệt điện
Nhà em nóng rực như lò đun chảy mọi điều mơ mộng
Em là cô thợ ca ba…
Tôi lặng mình và chợt hiểu ra Có một Hà Nội khác – Một Hà Nội nửa tôi
Hoan ca trời đất
Chúng tôi bên nhau riêng một trời – Riêng một đất.
Đường Cổ Ngư ngắn chừng ngang tấc
Trăng vàng rơi qua kẽ tay -Trôi bồng bềnh rồi tan vào sóng bạc
Mắt sướng thi nhân ngơ ngác
Cổ thụ ngồi trải lá vàng khô
Chúng tôi rù rì rù rì – Những lời say ong mật
Tạ trời ban cho hạnh phúc
Cánh hồn bay chơi vơi.
Em là tranh thiếu nữ làng Hồ – Tôi hân hoan đón kỳ ngộ bây giờ
Nhật nguyệt yêu mưa phùn gió bấc
Áo tình một chiếc phong phanh – Trao nhau tấm chân thành
Nụ hôn người Hà Nội. Nụ hôn tự biết thăng hoa
Yêu em thế nào tôi chẳng thể nói ra
Bởi đôi tay biết nói
Lời mồ hôi lời giá cóng – Lời mềm nặn sữa nuôi con
Lời thèm mắt ngủ – Lời kẽo kẹt làm chồng làm vợ
Hoa Ngọc Hà xuống phố ban mai
Hà Nội mình những năm bảy mươi
Kỳ ngộ tình bao nhiêu trang đẹp
Cô bác sĩ Cửa Đông nuốt khóc
Thiệp hoa phủ xác nửa mình
Anh thợ điện người Ô Quan Chưởng
Bới nhặt nửa mình trong đổ nát Khâm Thiên
Anh giáo cận Kim Liên
Ao Thu nửa mình duyên tắm
Kể sao hết những tú uyên muôn vạn
Gặp muôn vạn giáng kiều mọi nẻo thành đô
Những kỳ ngộ đẹp như thơ – Tình mình sánh làm sao được
Ấy là lẽ vì sao em không khóc – Trước gian nan tem gạo phiếu tiền
Ấy là lẽ tôi nói lời yêu em – Biết là mình đáng sống
Ấy là lẽ tứ thời dép lốp áo xanh
Dép lốp bè trầm áo xanh bè bổng
Gió kinh thành ngũ sắc hoan ca
Ấy là lẽ vì sao sao sa vào mắt em lay láy…
(Ca trù mùa Thu – Nguyễn Nguyên Bảy – Thơ)
Tháng Chạp ấy…
Hà Nội đang là bình minh
Bình minh đang lên trong ngũ sắc hoa Ngọc Hà, trong tiếng chuông chùa Trấn Quốc, trong bồng bềnh sương khói Hồ Tây.
Tôi lang thang giữa ba sáu phố phường
Nhìn ngắm mê say
Đi cùng cô gái bán hoa ngày hai bữa cơm đèn
Đi lên Bờ Hồ cùng tiếng chuông tàu điện vào ga, để ngược Bưởi, để xuôi mai.
Tôi rảo chân dọc đường Ngõ Gạch
Phố xá lặng im, nhà xếp hộp diêm hộp nào cũng chật.
Chợ Đồng Xuân, chợ Bắc Qua không còn là chợ buổi bình minh, chợ đang gợi xa những ngày Liên khu một.
Tôi rảo Hàng Ngang, tôi qua Hàng Bột. Tự nhiên muốn hát bài ca Người Hà Nội của Nguyễn Đình Thi.
Hà Nội của ba sáu phố phường cổ kính với thời gian, bỗng trở nên trẻ trung vội vã
Hai bảy năm bao cuộc chia ly Bao cuộc hành quân
Hồ hoàn gươm trao lại gươm thần
Cha ông cùng xếp vào đội ngũ
Sắc đỏ của máu và màu vàng của da
Mỗi chúng ta là một ngọn cờ…
Hà Nội đang là bình minh
Tôi leo lên sân thượng ngôi nhà Bộ công nghiệp nặng, đắm mắt mênh mông, mà thấy không chỉ sắc màu Hà Nội ba sáu phố phường, mà còn Hà Nội của 18 năm xây dựng
Hà Nội không còn e ấp nón quai thao.
Hà Nội hiên ngang sao vuông ngực em căng tròn
Trông về phía nam, nhà máy, nhà tầng, đồng xanh hoa nắng. Ngược về phía Bắc, phố phường bát úp thong dong.
Thăng Long ngày nào mấy chục vạn dân, Hà Nội năm nay nội thành đã gần một triệu.
Hà Nội xuân ngời như gái một con.
Soi gương tự phải lòng mình
Hà Nội riêng tôi là kinh thành cổ tích
Vẫn là Đông Đô Thăng Long, mặc ai mơ hồ… mơ hồ.
Trong tôi mãi chỉ nơi này – Hà Nội.
(Trích: Kinh Thành Cổ tích)
Sấm rền lộng trời
Hà Nội đang là bình minh
Hà Nội đang đứng trước một trận đánh lớn.
Trận đánh sinh tử giữa tên lửa và B52.
Nixon muốn Hà Nội chỉ còn là tro than và gạch vụn.
Hà Nội sẽ chỉ còn trong cổ tích.
Mỗi câu thơ tôi viết cho con sẽ đều phải đánh số 1,2 ghi chú điều giải thích.
Hà Nội mai sau sẽ lập những bảo tàng, nhưng chẳng đủ cho con tôi hiểu về Hà Nội hôm nay.
Hội văn nghệ sẽ lập thêm nhiều ban sưu tầm vốn cổ, thơ của thế hệ chúng tôi tìm bới trong than tro
Dù vậy chúng tôi không người nào ngồi viết chúc thư
Chúng tôi đang viết những tráng ca. Những tráng ca bằng gươm bằng súng, những tráng ca mà khi hát lên ta sẽ gặp mẹ cha ta, bạn bè ta, kinh thành cổ tích của ta…
Tất cả hiện lên trong tiếng cười chiến thắng, sắc đỏ của máu và màu vàng của da.
Mỗi chúng ta là một ngọn cờ.
Hà Nội đang là bình minh.
Tôi về trường Lương Yên với bao kỷ niệm
Tuổi ấu thơ ơi, tuổi ấu thơ không thể có hai lần
Cây phượng đỏ sắc gì mà đỏ chân vân?
Đỏ báo hiệu điều gì không biết nữa
Sân bóng đá vắng hoe, trường lớp lặng im không tiếng cười đùa. Không có ai để thưa chào một tiếng.
Thầy trò đi sơ tán, mỗi ban mai mình phượng đứng chào cờ.
Ôi cái màu phượng đỏ của tuổi thơ, cháy bừng toàn thân đuốc lửa. Hà Nội đang là bình minh.
Vợ con đã ra vùng sơ tán.
Anh đang đi lang thang không em, không con và đang hồi nhớ… Những nơi nào ghi dấu vết tình ta.
Vườn hoa góc phía nam công viên Thống Nhất, dưới cây nhãn tán xoè, mình ngồi bên nhau những đêm hò hẹn.
Vườn Bách Thảo những cây long não, trời trăng dịu dàng em gối ngực anh.
Dốc Thọ Lão có căn nhà muỗi. Em không biết uống cà phê cũng chiều anh ngồi Hói.
Rạp chiếu bóng Mê Linh đôi ta xem phim chiều chủ nhật. Căn phòng chín mét vuông khu tập thể Bạch Mai
Anh thích nhất món cháo trai em nấu…
Ôi tất cả đều vô cùng yêu dấu, có thể nào anh không khắc vào thơ.
Hà Nội đang là bình minh.
Tôi trở về đài thay ca trực chiến (Đài TNVN)
Tướng Trần Lâm đã có mặt ở chiến hào. Ông đang truyền lệnh gì mà cười rạng rỡ.
Một tổ phóng viên lên đường.
Một tổ phóng viên khác lên đường.
Và chúng tôi chờ lệnh.
Tướng Trần Lâm nhìn chúng tôi và chúng tôi đau đáu nhìn người. Hai bảy năm, từ mùa Thu độc lập đến hôm nay, vẫn vị tướng ấy, vị tướng chưa một ngày rời trận địa. Khẩu súng diệt thù là Tiếng nói Việt Nam.
Hai bảy năm, lứa chúng tôi ngồi đây nhiều người mới hai bảy tuổi.
Lệnh vị tướng cháy như lửa nói. Ai muốn lên Tháp Bút viết hùng ca?
Tất cả chúng tôi đồng loạt cánh tay giơ.
Súng đã nổ vang rền trời Hà Nội.
Rồng đã thăng
Cao xạ pháo đã thăng
Tên lửa đã thăng
Gươm nỏ đã thăng
Tháp Bút đã thăng
Cả Hà Nội bay lên trong trận đánh sau cùng
Sắc đỏ của máu và màu vàng của da
Mỗi chúng ta là một ngọn cờ.
(Nguyễn Nguyên Bảy – Thơ – Kinh Thành Cổ tích – Một Tháng Chạp)
(TT&VH) – Làm một tác phẩm hướng đến kỷ niệm 1.000 năm Thăng Long – Hà Nội là chuyện đang trở nên rầm rộ từ đầu năm đến nay và tập thơ Nguyễn Nguyên Bảy (NXB Văn học, 2010) vừa phát hành tại TP.HCM cũng góp một phần vào sự rầm rộ đó. Tuyển tập này có 4 phần là Kinh thành cổ tích, Nhật nguyệt, Một vài trống canh và Tụng một mình, gồm 447 bài thơ, dày 480 trang, khổ 20x20cm.

Tuyển thơ không mới về bút pháp, không lạ về cách nhìn, nhưng thể hiện rõ cái tình của một người xa Hà Nội, nghĩ về Thăng Long với tình cảm lãng mạn, nhiều mơ tưởng. Vốn là một người nghiên cứu kinh dịch và là nhà phong thủy nổi tiếng, từng xuất bản nhiều cuốn sách về vấn đề này, nên trong thơ của Nguyễn Nguyên Bảy cũng thể hiện rõ “chất” nghề này.













Phản hồi gần đây