ĐẶC SẮC CUẢ “ TIỄN DẶN NGƯỜI YÊU”, NGHỆ THUẬT MIÊU TẢ TÂM TRẠNG
Vũ Bình Lục
“Xống chụ xon xao” (Tiễn dặn người yêu) là một truyện thơ đặc sắc của người Thái Tây Bắc. Đối với người Thái, nó được xem là một “quyển sách quý nhất trong mọi quyển sách quý”. Nghĩa là nó đứng số một, hàng đầu, theo cảm nhận, theo quan niệm của người Thái. Tiếc rằng, lâu nay nó không được phổ biến rộng rãi vì nhiều lý do khác nhau. Ảnh hưởng của nó với người Kinh và đồng bào các dân tộc khác còn hạn chế. Gần đây, các nhà làm sách giáo khoa mới lưu ý chọn một đọan, có lẽ là tiêu biểu nhất về nội dung và nghệ thuật để bước đầu giới thiệu cho học sinh THPT.
“Tiễn dặn người yêu” có tới 1846 câu thơ, bằng hơn một nửa “Truyện Kiều” của Nguyễn Du. Nội dung mà tác phẩm bao quát cũng chưa thật rộng lớn, nhưng nó là một thiên tình sử bi thương của một đôi trai gái người Thái Tây Bắc trong xã hội phong kiến cũ kỹ đã xa lắm rồi. Nhân vật trong truyện thơ cũng không nhiều. Sự kiện, tình tiết cũng không dày đặc. Cốt truyện giản dị và kết thúc có hậu.
Vậy tại sao “Tiễn dặn người yêu” lại có sức sống mãnh liệt trong lòng đồng bào Thái đến thế? Xin nhắc lại rằng, đó là một “quyển sách quý nhất trong mọi quyển sách quý”kia mà! Người Thái Tây Bắc lại bảo rằng, đọc “Xống chụ xon xao” “không biết hát cũng phải biết hát” kia mà!
Như thế, cái chất “ma tuý” mê hoặc người ta là ở cốt truyện lâm ly, hay ở chất trữ tình đằm thắm của nghệ thuật thơ ca? Tôi đồ rằng, có lẽ là ở cả hai phương diện ấy!
Đoạn lược trích ở sách giáo khoa, theo tôi, thành công trước hết về phương diện nghệ thuật là ở những diễn biến hợp lý của tâm trạng nhân vật chính, cô gái.
Mở đầu đoạn trích, cô gái kể rằng:
“Mẹ cha ưng gả khi em còn trên nương
khi em đang ngoài ruộng”…
Bản thân chi tiết này cho thấy nguồn gốc, nguyên nhân của thiên tình sử bi thương uất hận. Nói cách khác, chính nó là hậu quả bi đát của một mối tình ngang trái, song song với một mối chung tình. Ở đây thấy rõ quyền lực tối cao của cha mẹ, kiểu như “cha mẹ đặt đâu con ngồi đấy” theo quan niệm Nho giáo của người Kinh…Nghĩa là người con gái hoàn toàn không có quyền lựa chọn người mình yêu. Nghĩa là cô gái chỉ có một cái quyền duy nhất là tuân theo sự sắp đặt của cha mẹ. Mọi toan tính, mẹ cha đã sắp đặt cả rồi, ngay lúc cô vắng nhà, khi cô “còn đang ở trên nương” hay “đang ngoài ruộng”…
Không biết ảnh hưởng của Nho giáo có tác động nhiều đến cuộc sống, văn hóa của người Thái hay không, nhưng dẫu sao thì cứ xem đây là một tập tục có từ xa xưa của người Thái: Cha mẹ có toàn quyền quyết định việc dựng vợ gả chồng cho con cái. Và nếu như đó là một quyết định sáng suốt, thì cũng chẳng có gì phải bận tâm thêm nữa. Nhưng mà…
Câu chuyện kể rằng cha mẹ cô gái nhất định không gả con gái cho người cô yêu, chỉ vì một lý do thật đơn giản: chàng trai kia quá nghèo. Cuộc sống “một mái nhà tranh hai trái tim vàng”, theo quan niệm của cha mẹ cô gái, chỉ là một ảo tưởng nặng màu sắc lãng mạn, hết sức phù phiếm của những kẻ chưa từng biết việc đời hay chăng? Chẳng thế mà cha mẹ cô đã quyết định ép cô lấy một chàng trai con nhà giàu, mặc dù cô gái không yêu, bởi cô đã gửi gắm trái tim cho một chàng trai khác đã gắn bó với cô từ hồi còn thơ bé. Bởi thế, làm sao mà cô gái không đau khổ, không buồn chán, khi buộc phải tuân theo “kịch bản” của cha mẹ!
Lại cũng theo tập tục của người Thái, mặc dù đã lấy chồng, nhưng cô gái còn đựợc ở nhà với cha mẹ ba năm, vì người chồng của cô còn phải ở “rể ngoài” theo lệ. Chỉ sau ba năm, nếu không có gì đột biến, cô gái mới chính thức trở về nhà chồng. Và đó chính là một khoảng thời gian tạo nên nhiều tình huống “có vấn đề”, khoảng thời gian mà cô gái được sống với hy vọng chung cuộc có thể thay đổi, rằng người yêu của cô sẽ có cơ hội trở về, sẽ có tiền, sẽ cứu cô ra khỏi hoàn cảnh đau khổ hiện tại, sẽ đem lại hạnh phúc thực sự cho cô…Cho nên, trong lòng cô lúc nào cũng có “vía anh yêu”, có hình ảnh thân thương của người yêu. Hình như tất cả thiên nhiên, tạo vật xung quanh cô, đều có “vía anh yêu”, đều thấy bóng hình của người mà cô yêu dấu. Đến như “Mặt trời” cũng có hình bóng anh yêu, cũng là “vía anh yêu”. Hình ảnh “Mặt trời” được cô gái nhắc đi nhắc lại nhiều lần, với nhiều vị trí khác nhau, nhiều dạng thức khác nhau và cuối cùng, nó “khuất mây mờ, sập tối”, theo sự hành tiến lui dần của thời gian, về phía tối tăm, về phía lụi tàn…
Rõ ràng, toàn bộ tâm trí của cô gái là hướng về phía người yêu, là để nhớ đến người yêu, là để tận hưởng hạnh phúc lứa đôi, cho dù là một thứ hạnh phúc chỉ tồn tại trong tưởng tượng. Mặt trời với cô sao mà thân thương, gần gũi, đáng yêu đến thế. Nó “quấn ngọn tre”, nó gợi nên những khoảnh khắc vậy thôi, rồi nó như cái bóng ma trơi cứ đùa dỡn, “không gọi”, “không chờ”…Cuối cùng, nó cũng “khuất mây mờ”, chìm vào đêm tối mênh mông tuyệt vọng.
Và đến khi chẳng còn mặt trời để nhìn ngắm, để tâm sự, hình như niềm si mê hạnh phúc của cô gái lại được chuyển hướng sang một hình ảnh khác, gần gũi hơn, đó chính là những bó củi dâu do chính tay cô “tuốt dao ra chặt”. Cô bó củi cho thật nhiều, “cho bõ gánh”, không phải chỉ một bó, mà hai bó. Hai bó chưa đủ, cô “kiếm ba bó”. Hai bó dành cho mẹ yêu nấu rượu, ninh xôi, còn bó thứ ba là để dành cho việc “nhen lửa sàn hoa”:
“Lửa sàn hoa để bạn trai hơ áo
Em chẻ đóm chờ mồi thuốc anh yêu”…
Bó củi thứ ba là để cô gái trở về với những kỷ niệm của tuổi xuân tràn đầy hạnh phúc trong trẻo. Nó thật giản dị. Giản dị đến mộc mạc, bởi tâm hồn cô chân thật, trái tim cô rung động chân thành. Và cô gọi “vía” về như gọi “anh yêu” về để cùng sống những ngày hạnh phúc dẫu đơn sơ mà đầm ấm nghĩa tình. Cô gọi “vía” về nhà, về với “cây sào giang vắt khăn”, “với cây sào lăn vắt áo”, “về giã gạo thêm cơm bữa sáng”, về nằm đệm “nẹp đen”, “nẹp đỏ”…Rồi cô tưởng tượng ra viễn cảnh sum họp và cuộc sống ấm áp tình chồng vợ, một cuộc sống bình thường, đơn sơ, nhưng tràn ngập niềm vui của người lao động:
“Hỡi vía anh yêu, về nhà theo nhau
Em khoác lẵng, em gánh củi
Vừa đeo rựa, vừa xách bầu”…
Cuộc sống có thể nhiều gian khổ vất vả thật đấy, nhưng em sẵn sàng chịu đựng tất cả, làm lụng tất cả, gánh vác tất cả, miễn là được sống với anh, có anh bên cạnh. Thế là đủ lắm rồi, chứ có cầu chi giàu sang tiền nhiều của lắm!
Nhưng mà trớ trêu thay, đó mới chỉ là khát vọng. Cuộc sống hạnh phúc do chính cô tưởng tượng ra, nó bỗng vụt tan biến đi khi cô vừa bước chân về tới bản, tới nhà. trước mắt cô là la liệt những “gói dong chen gói cá”, “gói dong kín gói gà”, “gói trầu khôngbắt chéo”, “gói dong dầy gói xôi”… và cả “thuốc lào khô gói bằng lá đề” nữa! Nghĩa là đã đầy đủ những lễ vật xin cưới…
Cô gái chợt nhận ra rằng: Thế là tất cả đã kết thúc. Giấc mộng hạnh phúc của cô đã hoàn toàn tiêu tan. Cô dường như không làm chủ được mình nữa. , trở nên hoảng loạn, “nát ruột nát gan” vì đau khổ, và tuyệt vọng:
“Em lập cập chạy ra sàn
Mâm cơm chiều dọn vội
nghĩ đến anh mà nát ruột gan
như nặn nến sáp không nên
như ôm cây to không xuể”…
rồi em lại “lập cập chạy vào đằng quản” cầu xin bác gái bác trai cứu giúp. Không được, cô gào lên như con thú trúng thương:
“Giúp tôi với, hỡi chị em dâu rể trong nhà!”…
Lại cũng không có kết quả. Tất cả mọi người đều từ chối giúp cô. Đến như con chim cu trên ngọn cây cũng khuyên cô nên chấp nhận sự sắp đặt của số phận:
“Con gái thành nàng dâu
Bố gả chồng cho, đừng chối cô à!”
Thế là chấm hết. Ảo mộng, đúng hơn là niềm hy vọng cuối cùng hình như đã tiêu tan, chỉ còn một hiện thực cay đắng: cô sắp phải làm vợ một người mình không yêu. Cô bất lực, chới với, sụp đổ hoàn toàn:
“Dẫu van xin, cha cũng không buông, không thả
Ngẫm thân em chỉ bằng thân con bọ ngựa
Bằng con chẫu chụôc thôi!”…
Có thể nói rằng phần cuối của đoạn thơ như một cao trào, bi kịch được đẩy lên đến đỉnh điểm. Toàn cảnh là một sự đối lập, đối lập đến nghiệt ngã. Không gian rộng lớn dường như rợn ngợp. Những người thân yêu gần gũi nhất , giờ đây trở nên hoàn toàn xa lạ. Cô gái như một cái bóng yếu ớt, xiêu vẹo, nhỏ bé và lạc lõng vô cùng giữa bao la lạnh nhạt thờ ơ. Cô như một con chim nhỏ trúng thương tội nghiệp.
Đặc sắc nhất của đoạn thơ là ở nghệ thuật miêu tả tâm trạng nhân vật cô gái. Khi cảm thấy mình sắp mất tất cả, sắp rơi vào bi kịch, người đầu tiên mà cô gái nghĩ đến, chính là người yêu của cô, không biết đang vất vưởng nơi nào đó, xa vời vợi:
“Em lập cập chạy ra sàn
Mâm cơm chiều dọn vội
nghĩ đến anh mà nát ruột gan”…
Thật là một chi tiết chân thực đến cảm động. Người đọc như hình dung thấy trước mắt một cô gái bé nhỏ tội nghiệp đang thất thần, hoảng loạn, run rẩy, chân chạy đấy, tay làm đấy, mà cô chẳng còn tâm trí nào nữa. Bụng cô lúc này chỉ nghĩ đến người yêu mà đau khổ cho chính mình thì ít, xót thương cho người yêu thì nhiều, đến nát ruột nát gan! Lại nhớ, nhân vật Vương Thuý Kiều của Nguyễn Du cũng có một cảnh huống tương tự khi Kiều phải quyết định bán mình chuộc cha, sau một đêm vật vã cân đong “bên tình bên hiếu bên nào nặng hơn…”, mặc dù nguyên nhân của hai sự việc có đôi phần khác nhau. Kiều tự nguyện hy sinh chữ Tình để thực hiện chữ Hiếu, cam lòng chấp nhận số phận nghiệt ngã cay đắng. Còn cô gái trong “Tiễn dặn người yêu” thì bị cha mẹ ép gả. Giống nhau là ở tâm trạng, ở sự mất mát không phương cứu vãn. Những câu thơ trong Truyện Kiều thấm đẫm nước mắt của Kiều, ngôn ngữ nhuần nhuyễn mà trang trọng, đạt đến đỉnh cao của nghệ thuật thơ ca tiếng Việt. Những câu thơ trong “Tiễn dặn người yêu” của dân tộc Thái mộc mạc, giản dị, thật thà như cây rừng, như lá rừng, như suối rừng, như những vật dụng bình thường thô mộc, bởi nó là cảm nhận của người Thái, là cuộc sống tâm hồn của người Thái. Cũng có thể bản dịch của Học Phi chưa thể chuyển tải hết cái hay cái đẹp của nguyên tác chăng? Nhưng dẫu sao thì nỗi đau của cõi người dưới gầm trời này, đâu mà chẳng giống nhau!
“Tiễn dặn người yêu” sở dĩ có sức sống mãnh liệt đến thế, được người Thái quý yêu trân trọng đến thế, phải chăng, nghệ thuật ấy đã đạt đến cõi linh diệu của kiếp người, hòa quyện vào máu thịt dân gian? “Tiễn dặn người yêu”, chính là nỗi buồn bản thể con người ở mọi thời đại, là nước mắt bản thể của con người, khát vọng bản năng con người ở mọi thời đại, được thăng hoa lên thành nghệ thuật, thành văn hóa người thấm đẫm tinh thần nhân văn nguyên thuỷ.
Phước An 2003
V.B.L
khăm kẹo
Mạch văn viết giàu cảm xúc, có sự liên tưởng đối chiếu.Tuy nhiên,việc người viết chỉ ra nghệ thuật biểu hiện tâm trạng của nhân vật vẫn còn hời hợt.
Chẳng hạn, các điệp từ, hình ảnh mặt trời đc nhân hoá, hành động chặt củi,độc thoại nội tâm, phong tục chơi “hạn khuống – lửa sàn hoa, gọi vía”, nghệ thuật so sánh…
Nói chung, người viết chưa am hiểu về văn hoá dân tộc Thái.