Chấn hưng giá trị Phật giáo thời Đinh và tiền Lê

Mai Thục

Hội thảo khoa học “Phật giáo thời Đinh và tiền Lê trong công cuộc dựng nước và giữ nước” do Viện nghiên cứu tôn giáo tổ chức tại chùa bái Đính- tỉnh Ninh Bình, tháng 6-2010, đã thu hút hơn ba trăm đại biểu tham dự với trên 50 bản báo cáo khoa học.
Các nhà khoa học đã nhìn nhận nhiều chiều, đánh giá một cách nghiêm túc và khách quan những đóng góp lớn của Phật giáo đối với quốc gia buổi đầu dựng nước.
Hội thảo đã trân trọng được cung đón Đức Đại lão pháp chủ GHPGVN- Hoà thượng Thích Phổ Tuệ, đến chứng minh và ban đạo từ.
Niềm hoan hỷ dâng trào hội trường. Tăng ni Phật tử khắp nơi trong, ngoài nước đều ngưỡng mộ Đại lão Hoà thượng Thích Phổ Tuệ- bậc chân tu giản dị, uyên thâm, giải thoát, đang gieo trồng Phật giáo Việt Nam “Hộ quốc an dân” như các bậc danh nhân thuở trước, bằng chính thân tâm, ngôn ngữ, công việc và cả cuộc đời tu tập thành đạo của mình.
Dáng thanh cao, tỉnh thức, giọng nói rành mạch, vang ấm, âm lượng dồi dào, mạnh mẽ, thông thái, an hoà, Đại lão Hoà thượng Thích Phổ Tuệ hiện ra, nổi tiếng là người tinh thông kim cổ, người đóng góp không nhỏ cho việc biên soạn và dịch thuật nhiều tác phẩm về Phật giáo ở Việt Nam. Người đã từng nói về lẽ sống/ chết theo tiếng nói giải thoát của lòng mình sau một đời tu:
“Sống ở trên đời này được bao nhiêu năm, theo tôi không phải là thước đo giá trị của đời người. Con rùa nó sống hàng nghìn năm thì đã sao? Vấn đề là sống để thực hành sứ mệnh gì, mang lại lợi ích gì cho Đời, cho Đạo, ngài Trần Nhân Tông chỉ ở đời có 51 năm, ngài Pháp Loa có 47 năm, mà công nghiệm thì bất khả tư nghì. Tôi trụ thế đến nay đã 91 năm, ở chùa 85 năm, thụ Đại giới được 71 năm, nghiệp là tu hành, nuôi thân thể chủ yếu bằng nghề làm ruộng, chưa từng dám đụng một bát gạo, một đồng tiền của chí tín thập phương, khi nào chư Phật, chư Tổ gọi là tôi về thôi.”
Đại lão Hoà thượng Thích Phổ Tuệ quê gốc ở xã Khánh Tiên, huyện Yên Khánh, Tỉnh Ninh Bình, 5 tuổi xuất gia, hiện đang trụ trì chùa Giáng, huyện Thường Tín, Hà Nội, là Đệ Tam Pháp chủ GHPGVN.
Ai có hạnh duyên được đến ngôi chùa làng giữa cánh đồng lúa xa, thăm căn phòng nhỏ, vật dụng đơn sơ, được chiêm bái vị cao tăng áo nâu thanh bạch màu thiền, nhẹ nhàng giảng kinh, đọc sách, đi đứng khoan thai, yêu người, mến vật, vui nhàn trồng cấy, thoát luỵ trần… đều được cảm hoá, bừng tỉnh.
Phật tử khắp nơi đều mong ước một khoảnh khắc gặp Hoà thượng Thích Phổ Tuệ với khát khao được tỉnh ngộ.
Niềm vui bất ngờ, cụ Pháp chủ Thích Phổ Tuệ đã đến với những người tâm huyết tìm về những giá trị Phật giáo thời Đinh và tiền Lê, chứng minh và ban đạo từ, tiếp sức cho mọi người cùng nhau thắp sáng Đạo trong Đời, gieo trồng cho Phật giáo Việt Nam mãi mãi đồng hành cùng dân tộc bảo tồn và phát triển văn hoá truyền thống Việt Nam.
Hàng trăm người trong hội trường chùa Bái Đính thanh tịnh tương sinh, tương ứng hướng về Đức Pháp chủ Thích Phổ Tuệ, từng lời của Đại lão Hoà thượng vang lên:
“Phật giáo là tôn giáo cầu vui thoát khổ, đem lại bình đẳng trên các quốc gia, các dân tộc. Lịch sử Phật giáo Việt Nam có những vị cao tăng giao lưu với Ấn Độ, Trung Hoa. Từ khi đất nước ta còn là những châu, quận của Trung Hoa, Phật giáo đã đem lại bình đẳng cho dân tộc. Thời Đinh Bộ Lĩnh, Khuông Việt Đại sư (Ngô Chân Lưu) phò vua giúp nước giao thiệp với ngoại bang. Tiền Lê, Đỗ Thuận Pháp sư giúp Lê Đại Hành ngoại giao, nâng vị trí đất nước, dân tộc, nhà vua ngang bằng nước lớn. Thời nhà Lý Thiền sư Vạn Hạnh nuôi dạy Lý Công Uẩn thành vị vua anh minh…
Từ đó đến nay, Phật giáo luôn giúp cộng đồng cùng tiến hoá, bình đẳng, tự do, dân ta sáng suốt, anh dũng, không bị sa vào mê tín, trụy lạc hoặc bi quan, tự tin hoà nhập cùng thế giới.
Tổ tiên ta thông thái lấy đạo Phật sáng soi, nên ngày nay, đất Hoa Lư có chùa Bái Đính, truyền ngọn đăng Phật giáo “Hộ quốc an dân”, “Kinh bang tế thế”. Ban tôn giáo Chính phủ quan tâm, muốn cho Phật giáo Hoa Lư- Bái Đính có được quang cảnh bề thế hơn xưa, muốn nơi này là nơi đào tạo tăng ni, Phật tử Việt Nam hiện đại, tiếp nối tư tưởng, sự nghiệp Phật giáo của ông cha.
Đây là hạnh phúc cho Phật giáo nước nhà. Nòi giống Lạc Hồng, nhân dân Việt Nam hai nghìn năm nay đã tin tưởng Phật giáo là chính tín, là quốc đạo để hướng tới, để được sống trong nhu cầu tự do tín ngưỡng và tâm linh…”
Đạo từ của Đại lão Hoà Thượng Pháp chủ Thích Phổ Tuệ ngân vang trong không gian chùa Bái Đính, gợi nhớ tiếng Phật hoàng Trần Nhân Tông hoà cùng tiếng chuông Phật gọi con dân Việt Nam tỉnh thức “Xoay lại tìm mình”, “Phật tại tâm”, “Tu thập thiện”, “Trí tuệ, yêu thương”, “Bình đẳng, bác ái”, “Dân chủ, nhân hoà”…
Thời Đinh và tiền Lê, Phật giáo trở thành hệ tư tưởng chính thống để điều hành đất nước. Nhà nghiên cứu Lã Đăng Bật đã chứng minh bảy đóng góp quan trọng của Phật giáo cho việc dựng nước và giữ nước, cần chấn hưng trong thời đại ngày nay.
Đóng góp thứ nhất là các nhà sư đã trở thành những trí thức yêu nước, người sáng tạo văn hoá, có vị trí quan trọng trong triều đình như Khuông Việt đại sư Ngô Chân Lưu và Thiền sư Đỗ Pháp Thuận…
Đóng góp thứ hai là các nhà sư đã hoạt động ngoại giao để giữ yên đất nước, làm cho quan hệ giữa nước Đại Cồ Việt và Trung Hoa trở nên tốt đẹp.
Đóng góp thứ ba là nhờ các nhà sư, ngôn ngữ văn học Việt Nam phát triển. Bài từ của Ngô Chân Lưu tiễn sứ giả Lý Giác được coi là bài từ cổ nhất hiện còn trong lịch sử văn học cổ điển Việt Nam.
Đóng góp thứ tư là nhờ có các cột kinh Phật, thư pháp đá đã hình thành, cũng thể hiện nghề chạm khắc đá ở Ninh Bình đã có từ lâu đời.
Đóng góp thứ năm là bài thơ Quốc tộ (Vận nước) của Thiền sư Pháp Thuận đã góp phần khai sinh văn học viết Việt Nam.
Vận nước như mây quấn
Trời Nam giữ thái bình
Vô vi trên điện các
Chốn chốn dứt đao binh
Bài Vận nước đã được đưa vào sách Ngữ văn lớp 10 bậc phổ thông Trung học.
Đóng góp thứ sáu là Quốc sư Vạn Hạnh đưa Lý Công Uẩn lên ngôi, lập vương triều nhà Lý một cách hoà bình.
Đóng góp thứ bảy là xây dựng được một trung tâm Phật giáo Hoa Lư, xây nhiều ngôi chùa linh thiêng cho ngày nay.
Bảy đóng góp này của Phật giáo thời Đinh và tiền Lê hiện cần được kế thừa và phát huy.
Những người tham dự Hội thảo đồng tình, hướng tâm với bản báo cáo của Thượng toạ Thích Thọ Lạc- Phó trưởng ban Trị sự Phật giáo tỉnh Ninh Bình “Chấn hưng Phật giáo thời Đinh và tiền Lê trong giai đoạn mới”.
Thượng toạ Thích Thọ Lạc nhấn mạnh “Sự góp mặt của Phật giáo với dân tộc Việt Nam là không thể tách rời. Phật giáo được coi như bản sắc riêng của người Việt nhằm chống lại âm mưu đồng hoá của phương Bắc”.
Thượng Toạ Thích Thọ Lạc phân tích những vấn đề của Phật giáo Việt Nam trong giai đoạn hiện nay một cách thông tuệ.
Phật giáo hiện vẫn chưa thật sự đóng góp được nhiều cho đất nước bởi một số vấn đề:
Về nhận thức một số người, một số nơi còn coi Phật giáo như một tôn giáo ngoại lai, từ đó thái độ e dè, ngại tiếp xúc. Về văn hoá từ lâu các hình thức sinh hoạt văn hoá của Phật giáo đã thâm nhập và trở thành những sinh hoạt không thể thiếu của Phật tử và người dân. Tuy vậy, lễ hội văn hoá Phật giáo ở một số nơi còn gặp khó khăn, khiến cho việc phổ biến và phát triển nền tảng giáo lý Phật giáo đến với quần chúng chưa được mở rộng.
Về giáo dục việc giáo dục đạo đức, lối sống, văn hoá theo Đức Phật hiện mới chỉ gói gọn trong giới tăng ni, việc mời các trí thức Phật giáo đến dạy ở các trường đại học còn gặp nhiều khó khăn. Bởi vậy giới sinh viên- trí thức trẻ chưa được tiếp cận trực tiếp với giáo lý Phật giáo. Sự giao lưu giữa giới trí thức Phật giáo với các nhà khoa học trong xã hội còn khoảng cách…
Thượng toạ Thích Thọ Lạc đã đưa ra một vài kiến nghị thiết thực, biểu hiện mong mỏi chung của giới Phật giáo không chỉ là chấn hưng Phật giáo Việt Nam mà trên tất cả là sự đóng góp nhiều hơn nữa với tất cả tiềm năng có sẵn của mình, vì một đất nước Việt Nam hiện đại, dân chủ và văn minh.
Đối với lĩnh vực nhận thức, các nhà nghiên cứu, học giả, nhà quản lý xã hội, cần coi Phật giáo là một bộ phận không thể tách rời của dân tộc. Các nhà lãnh đạo cần và nên đến với Phật giáo như là đến với truyền thống nghìn đời của Tổ tiên.
Với vấn đề văn hoá, các sinh hoạt lễ hội của Phật giáo chính là các lễ hội văn hoá, Nhà nước nên tạo điều kiện để các lễ hội đó được lan rộng trong sinh hoạt cộng đồng.
Với lĩnh vực giáo dục, hiện nay nhu cầu nghiên cứu Phật giáo nói chung và Phật giáo Việt Nam đang ngày càng phát triển mạnh mẽ. Điều này đang đặt ra cho các Học viện Phật giáo tại Việt Nam cần phải nghiên cứu bổ sung những chuyên khoa cho các Phật tử muốn nghiên cứu, mở rộng kiến thức. Đề nghị nhà nước cho phép các trường đại học đủ điều kiện mở phân khoa Phật học.
Giáo hội Việt Nam mong muốn thành lập trường Đại học cho các tăng ni, Phật tử. Xây dựng một trường Đại học hình mẫu trên mảnh đất cố đô Hoa Lư, theo hướng liên thông với một số trường đại học, đào tạo tín chỉ cho người học dễ dàng lựa chọn.
Tạo ra nhiều hoạt động gắn kết chặt chẽ giữa giới trí thức Phật giáo với các nhà trí thức xã hội, các nhà doanh nghiệp, nhà văn hoá, nghệ sĩ trong xã hội để cùng nhau dựng nước và giữ nước, như thời Đinh và tiền Lê.
PGS.TS Nguyễn Hồng Dương Viện trưởng Viện nghiên cứu tôn giáo nhấn mạnh: “Hộ quốc an dân, đồng hành với dân tộc trong công cuộc dựng nước và giữ nước là nét chủ đạo trong phương châm cũng như hành xử của Phật giáo ở Việt Nam… Phật giáo cung cấp tư tưởng trị nước cho hai thời đại Đinh và tiền Lê, thể hiện ở những Thiền sư tiêu biểu như Tăng thống Ngô Chân Lưu hiệu là Khuông Việt đại sư, Pháp Thuận và Vạn Hạnh…
Cuộc hội thảo khoa học này, trên cơ sở khẳng định vai trò của Phật giáo đinh và tiền Lê, sẽ có những kiến nghị với Đảng, Nhà nước và chính quyền địa phương một số vấn đề cụ thể như: đặt tên đường mang danh các Thiền sư có công giúp triều Đinh và tiền Lê, xây nơi thờ phụng các ngài. Cần thiết phải tiếp nối truyền thống đào tạo tăng tài của Phật giáo bằng việc thành lập Học viện Phật giáo Khuông Việt tại Ninh Bình. Bảo tồn tu bổ những di tích Phật giáo gắn với hai triều đại Đinh và tiền Lê…”
Cố Đại lão Hoà thượng Thích Đức Nhuận khẳng định “Đạo Phật không phải là tôn giáo chỉ dắt cho con ngưòi ta đi vào yếm thế, tiêu cực, bi quan. Nó là đạo của hành động, sống động sinh sôi giữa cuộc đời này. Chính đạo Phật đã đánh gục sự độc tôn của tư tưởng văn hoá Trung Hoa, nhất là trong chính sách đồng hoá Hán tộc người Việt thời đô hộ”. Và “Lịch sử dựng nước, đấu tranh giữ nước là lịch sử của dòng Phật đạo, được khai sáng từ thời Ngô- Đinh- Tiền Lê, đó là điều không bao giờ có thể phủ nhận được”.
Học tập tổ tiên, chấn hưng Phật giáo thời Đinh và tiền Lê để phụng sự nhân, đất nước là sự thông thái của chúng ta thời hiện đại.

Viết cảm nhận

*