Cảm nghĩ về mấy hiện tượng văn học đang xôn xao dư luận

Nguyễn Lê

Truyện dài SỢI  XÍCH:

Tình cờ lướt mạng, được biết buổi cho ra mắt khác thường đứa con tinh thần của một tác giả nữ trẻ. Tôi nghĩ văn chương chẳng dính dáng gì tới nhan sắc của người sinh ra nó. Cốt của nó là cái tâm và cái tài của người viết, rồi là cái lòng người đọc. Ý của người viết với ý của người đọc có khi trái chiều nhau. Tài như cụ Nguyễn Du tạo ra cặp tố nga Kiều-Vân mỗi người một vẻ mười phân vẹn mười mà tả cô em khuôn trăng đầy đặn nét ngài nở nang có là đối nghịch với cô chị có làn thu thủy nét xuân sơn? Đẹp đấy, xấu đấy, mỗi người một ý! Đen mà ròn, rỗ mà hoa, béo mà phúc hậu… đâu có xấu?… Ranh giới đẹp-xấu thật mù mờ bởi nó phụ thuộc vào cảm tính người ta.

Người bạn văn đưa cho tôi cuốn truyện SỢI XÍCH, tất nhiên là bạn đã đọc rồi và mủm mỉm cười chỉ mấy dòng tác giả tự giới thiệu ngay ở trang đầu: Tôi muốn viết về những bản năng nhục thể của con người, mặt phải và mặt trái của sex… và cuối sách độn vào vài tấm hình khoe thân tác giả trong mấy kiểu thời trang tươi mát! Có nghệ thuật không thì để cho mấy nghệ sỹ nhiếp ảnh bình. Có đẹp không thì cũng tuỳ người. Nhưng rao hàng văn chương kiểu ấy dụ được những ai?

Cuốn truyện không dài, dễ xem, dễ hiểu. Xét cho cùng không có gì mới lạ. Tình yêu là đặc trưng tình cảm ở loài động vật đã hình thành hệ thần kinh cao cấp. Hôn nhân là sự phát triển tột đỉnh của tình yêu và chỉ có ở loài người. Để thoả mãn nhu cầu tình cảm, đương nhiên nó phải đáp ứng được mục tiêu hài hòa giới tính và di truyền nòi giống. Tưởng hai mà một bởi thiếu một mục tiêu thì hôn nhân không tồn tại. Hài hòa giới tính – Cái mà tác giả gọi là bản năng nhục thể của con người, là yêu cầu trước hết của hôn nhân. Điều này đã được quy định thành văn coi như pháp lý trong sinh hoạt cộng đồng và cả trong điều luật của một số tôn giáo nữa. Tuy nhiên, hiện nay, ở một số quốc gia và một bộ phận dân chúng có xu hướng xã hội hóa việc hôn nhân đồng giới tính nghĩa là coi bản năng nhục thể là mục tiêu chính yếu, phá vỡ quan niệm hôn nhân truyền thống! Hậu quả của nó đang được cảnh báo bằng những hiện tượng biến động tâm sinh lý, đạo đức con người và sự mất cân bằng xã hội. Con người sẽ điều chỉnh những việc làm sai quy luật nếu muốn mình còn tồn tại.

Sự bất lực giới tính đưa đến trạng thái yếm thế hay bất bình đẳng trong quan hệ hôn nhân. Hai thân phận nam nữ ở đây đều rất đáng thương bởi nó liên kết với nhau từ cuộc hôn nhân không đúng nghĩa thì điều gì phải đến sẽ đến. Dù một bên tự nguyện làm thân nô lệ cũng không thể giữ mãi mối quan hệ hình thức xã hội nhạt nhẽo vô duyên ấy. Khi nhu cầu bản năng không được thoả mãn dẫn đến ức chế sẽ thành bệnh hoạn ở cả hai cá thể. Hà cớ chi phải ràng buộc để những bức xúc dày vò tự làm khổ mình và làm khổ nhau đến thế?!

Hoặc tác giả thiếu tự tin về tay viết của mình, phải mượn thủ pháp bản năng đưa đẩy mình lên thành một ngôi sao sớm nổi? Hoặc tác giả muốn hăng hái xông pha khai thác mặt phải và mặt trái của sex vốn là một góc cái tôi của con người để được bày ra vài cảnh sinh hoạt phòng the mà những ai muốn nói ra còn thấy ngại ngùng? Dù sao đó cũng chỉ là cái ao ước tự nhiên đến khát khao cháy bỏng của người con gái mang tiếng có chồng, cũng chưa thể coi là cuốn sách có nội dung đồi trụy. Điều dở là cách chào hàng làm cho dư luận hiểu sái đi.

Giá như có sự điều chỉnh chút xíu của người biên tập giúp cho một cây viết trẻ biết trân trọng giá trị văn chương; giá như cứ để cho đứa con tinh thần của mình lặng lẽ bước vào đời để rồi hữu xạ tự nhiên hương thì đâu đến nỗi đứa con tinh thần đầu đời ấy vừa lọt lòng đã phải nhận sự thị phi không do nó gây nên!

Bài thơ TRĂNG NGHẸN:

Cuộc thi thơ ở đồng bằng sông Cửu Long năm 2010, bài thơ của tác giả Hoài Tường Phong được Ban giám khảo chấm giải nhất song không có sự đồng thuận trong dư luận! Cái lý để treo giải thuộc quyền của người bày ra cái giải để treo lên – Ấy là người viết chưa có cái nhìn tươi tắn lạc quan về những đổi thay của miệt Tây Nam Bộ bạt ngàn đồng lúa sản lượng cao bên những kênh, đìa đặc lờn tôm cá.

Âm hưởng bài thơ có chút buồn mà mộc mạc, dễ cảm, dễ nhận, như tiếng lòng của đứa con xa được về quê mẹ, ngày chứng cảnh vui buồn, đêm ngủ dưới mái nhà xưa, nghe tiếng thở, nhìn nét mặt võ vàng phờ phạc của người thân mà thao thức trăn trở suy tư. Niềm vui thường dễ chia và tan nhanh như gió thoảng. Nỗi buồn thường đơn độc, dễ lay động lòng người và bật thành thơ đọng lại. Người làm thơ không thể như thầy lang bốc thuốc, một chút vị nhiệt, một chút vị hàn, điều cho ngọt đắng hòa đều. Thơ đã vui là vui tận cùng, đã buồn là buồn sâu lắng, đã đau là đau thấu ruột gan. Nhưng phải là cảm giác thật của người thơ mới toả lan sang người nghe, người đọc.

Cây cầu dây văng mút mắt, con đường cao tốc thênh thang, đường dây điện cao thế chằng chịt, khu chế xuất mênh mông, sân golf sang trọng mà xa lạ, dãy phố thị với những nhà cao tầng và biệt thự mọc lên như nấm sau mưa… thật vui đấy mà không xoá nổi một thực tế nơi đây đang còn là vùng trũng văn hóa của cả nước! Người có tâm sao không buồn được khi chia sẻ với người thân quê mình nặng những mối lo… Mấy công ruộng là cơ nghiệp truyền đời từ nay không còn nữa! Mớ tiền đền bù giải toả như của bố thí nắm trong tay khác chi gió lọt vào nhà trống! Rồi  sẽ sống làm sao? Lớp trẻ thất nghiệp bơ vơ. Mấy thằng con trai hoặc vào làm phu trong trang trại, hoặc phơi nắng nhặt banh, hoặc bỏ xứ đi xa tìm việc, đứa nhoi lên được thì ít, đứa mắc vào tệ nạn thì nhiều! Mấy đứa con gái phất phơ giải yếm… nghèo, kiếm tấm chồng ở quê đã khó lại khổ, đành lên phố thị cam phận tiếp viên hoặc là nhắm mắt đưa chân đến miền đất hứa mong đổi kiếp người! Mẹ càng hằn sâu những vết nhăn trên mặt! Cha càng trầm tư già nhanh, ít nói! Tương lai già trẻ như cái bánh vẽ không thể làm no cái bụng, làm yên cái dạ! Nhãn tiền, ruộng đất tích tụ đang vào tay ai? Cổ phần hóa xí nghiệp, ai gom lại những cổ phần để thành nhà doanh nghiệp? Tỉnh nọ cổ phần toàn bộ Công ty du lịch để lọt hết vào tay một nhà tư sản Việt kiều! Thằng con ông giám đốc công ty miệng còn hoi sữa đã có trong tay hơn hecta đất giữa lòng thành phố! Những ông cả bà lớn khác chẳng lẽ không có phần nào? 10 triệu mét vuông đất tức là 10 ngàn công đất nhà, đất ruộng lấy của dân bằng mấy đồng tiền bớt xén đền bù cũng của dân, đem cho những ai (?) thuê giá rẻ như bèo, để cho những ai (?) hưởng lợi! Người ta nói là cá biệt mà sao các vị chức sắc nhan nhản lại giàu nhanh lên đến thế?! Đánh tham nhũng như thầy pháp trừ tà, ma quỷ càng nhởn nhơ trơ tráo! Ông Tổng Thanh tra chính phủ nói thẳng ra trước Quốc hội là cán bộ lắm của nhiều tiền bây giờ nhiều không kể xiết! Giàu chân chính thì mừng. Chẳng lẽ cả một hệ thống cơ quan chức năng kềnh càng không thể dò ra những phép thần thông nào biến của cải từ tay ông chủ tuồn vào két sắt của những đầy tớ nhân dân? Chẳng lẽ đó là mục tiêu định hướng xã hội chủ nghĩa của nhà nước từ dân, do dân và vì dân sao? Luật pháp không cho bóc lột sức khoẻ trẻ em có đó. “Ủy ban bảo vệ trẻ em” các cấp đều có cả nhưng vẫn có không ít bé em phải bỏ học đi làm thuê với đồng lương rẻ mạt, thậm chí bị hành hạ bằng những hình phạt như thời trung cổ diễn ra dai dẳng! Bao nhiêu bé gái bị bán thân dưới nhiều hình thức? Giữa vùng quê xưa kia nghèo mà êm ả nhưng nay nhan nhản những động thổ không chỉ nghênh ngang giữa phố phường, mà lan tới cả miệt vườn xa, rủ rê quyến rũ, chôn vùi những thân gái trẻ để thoả mãn nhu cầu trác táng cho đủ hạng người?! Báo chí bao nhiêu mặc dù đã cân đong gạn lọc vẫn không tải nổi những tin tức hàng ngày nhức nhói lòng người! Tập thể là nhiều cá nhân hội lại mà đốt đuốc quanh năm không tìm ra một ngài lớn nhỏ cầm cương tài năng liêm chính thì dân biết tin cậy vào ai? Ai có thể cười? Ai có thể lạc quan?

Bài thơ Trăng nghẹn có sức truyền cảm vì nó là những lời thủ thỉ chân tình thức tỉnh người mê ngủ, khác với bài thơ Thời đất nước gian lao như lời sám hối của những người chiến đấu cho mục tiêu cao cả mà sự hy sinh của họ không phải là vô ích, người đọc khó lòng tiếp nhận! Thơ Trăng nghẹn là nỗi buồn thật đáng buồn của một hồn thơ. Buồn đấy, thương đấy và chạnh lòng chia sẻ với quê hương. Nó không vô duyên như những trận vui đầy tháng, cuộc cười thâu đêm của những ai quen ngồi trên xe máy lạnh chạy bon bon trên đường nhựa phẳng, đổ mồ hôi trên những sân golf, say sưa trong những bữa tiệc rượu linh đình, hưởng khoái lạc trong những khu nhà nghỉ tiện nghi… thoả mãn riêng mình để rồi khoát tay nói lớn viễn vọng tương lai giữa chốn đông người, làm ngơ trước những nỗi đau nhức nhói, thôi thúc của biết bao thế hệ người lương thiện từng đổ xương máu, mồ hôi chỉ mong thoát cảnh sống khốn khổ bất công.

Những năm 1969 – 1970 là thời kỳ ác liệt gian nan bi đát của cách mạng miền Nam kể từ sau cuộc Đồng khởi 1960. Những người lãnh đạo cách mạng nói ra điều quy luật với đồng bào, chiến sỹ: Giậu có xô thì mới biết! Với sự tiên phong gương mẫu của những người cộng sản trên dưới một lòng,  không sợ hy sinh gian khổ, đồng loạt tiến công, xô đổ cái giậu nghênh ngang tưởng như không thể, là hệ thống kìm kẹp của Mỹ-Ngụy, buộc chúng phải ký Hiệp định Paris, mang lại hòa bình thống nhất tổ quốc với bao nhiêu hy vọng của người dân được sống trong tự do, bình đẳng, ấm no, hạnh phúc.

Dù tình thế ngày nay đã khác nhưng nông thôn vẫn là vùng chậm phát triển về nhiều mặt, người nông dân vẫn là người chịu thiệt thòi nhiều nhất. Của cải xã hội phát sinh nhanh phần lớn là dựa vào vốn vay nước ngoài đem về khai thác tài nguyên đất nước nhưng tích tụ quá chênh lệch tới mức bất công vào tay một số quan chức từ trên xuống dưới mà gánh nợ thì nhân dân – tuyệt đại đa số là những người lương thiện và nghèo, phải trả! Xây dựng đất nước công nghiệp hóa được tới đâu chưa biết nhưng thực tế là chất lượng cuộc sống của đại bộ phận người dân đang giảm sút trong khi cuộc sống của giới quan chức càng hiện đại nhanh hơn! Hãy lấy đồng lương hoặc tiền thu nhập cơ bản của các bộ phận dân cư so với giá cả thị trường theo từng thời điểm để tính giá trị của đồng tiền nằm trong túi họ, sẽ thấy ai không chia sẻ mối lo với người lương thiện là người không có lương tâm!

Cái giậu của ta là gì và vững tới mức nào, những người có trách nhiệm phải nhìn thẳng vào sự thật, nói ra sự thật, dám nhận trách nhiệm về mình và tự giác đứng ra làm phên giậu mới mong được vững như thành đồng.

Nói thật hay nói dóc nhân dân đều biết. Làm thật hay làm dối nhân dân cũng biết.

Hãy cùng chia sẻ với nhà thơ nỗi bức xúc, day dứt ước ao mau xua đi những đám mây mưa vần vũ để vầng trăng kia soi tỏ không chỉ một vùng quê.

TPHCM tháng 6 năm 2010

TRĂNG NGHẸN

Hoài Tường Phong

* Mẹ sinh tôi vào một đêm rằm mưa gió ngày xưa

Lúc chào đời đã lỡ hẹn cùng vầng trăng viên mãn

Vùng tản cư hồi này ruộng hoang nhà trống

Rước được bà mụ vườn, ngoại cực trần thân.

* Tôi lớn trong quê mùa như cây tạp vườn hoang

Bảy tuổi biết leo lưng trâu, không từng ngồi xe đạp

Không biết lời bải buôi để mua lòng người khác

Nên thua thiệt cả đời vì không thể dối lừa ai.

* Ngơ ngác buổi ra thành trước cuộc sống đua chen

Mười năm sau chưa gội rửa cho mình thành dân chợ

Lớp phèn hết bám chân nhưng chất chân quê còn đó

Tôi tranh thủ những tháng hè thích về lại thăm quê.

* Bè bạn theo đuôi trâu một thời, mơ ước nhìn tôi

Tưởng tôi thoát kiếp ngài nhởn nhơ hóa bướm

Tôi nhìn vẻ hồn nhiên của đám bạn xưa thèm qúa

Cộng một chút phù hoa đâu thêm lớn tâm hồn.

* Mỗi lần về quê bè bạn cũ lại vắng hơn.

Gái mười bảy đã lấy chồng, trai hai mươi đòi vợ

Cô bạn xưa nách con ngang nhà mua chịu rượu

Đôi mắt ướt một thời bẽn lẽn ngó bàn chân.

* Xóm bên sông nhiều cô gái rời quê

Về thăm nhà xênh xang lụa là hàng hiệu

Vài căn nhà xây đổi đời nhờ những đồng tiền báo hiếu

Khởi sắc một vùng quê sao nghe có chút bùi ngùi.

* Đồng bằng quê hương tôi nhiều cái nhất ngậm ngùi:

Sản lượng lúa nhiều, vùng cá ba sa lớn nhất

Đầu tư văn hóa thấp và khó nghèo cũng nhất

Và cũng dẫn đầu, những cô gái lấy chồng xa!

* Chập tối buồn ra nhìn bến nước cô đơn

Vầng trăng vừa lên đã bị mây mưa vần vũ

Tôi chợt nhớ lần lỗi hẹn đầu đời, trăng cũ

Vầng trăng nghẹn hoài chưa tỏa sáng một vùng quê.

Đề nghị giải nhất

Cuộc thi thơ Đồng bằng sông Cửu Long

2010

Viết cảm nhận

*