You Are Here: Home » Sự kiện, nhân vật, bình luận » Hội thảo khoa học về Lễ nghi học sĩ Nguyễn Thị Lộ

Hội thảo khoa học về Lễ nghi học sĩ Nguyễn Thị Lộ

Nhiều bạn mail đến hỏi về cuộc Hội thảo minh oan cho Lễ nghi học sĩ Nguyễn Thị Lộ do Hội những người yêu kính Nguyễn Trãi và Nguyễn Thị Lộ, nhà giáo Hoàng Đạo Chúc làm Hội chủ, tổ chức và xây ba ngôi đền thờ Lễ nghi học sĩ Nguyễn Thị Lộ, trang: vanhac.org xin đăng lại nội dung cuộc hội thảo khoa học do Đảng ủy xã Trần Phú, Khuyễn Lương, Hà Nội phối hợp với Hội Sử học Việt Nam tổ chức ngày 19-12-2002 và sau đó ra đời tập Kỷ yếu nhan đề: Lễ nghi Học sĩ Nguyễn Thị Lộ với thảm án Lệ Chi viên, do nhà giáo Hoàng Đạo Chúc tổ chức và chủ biên (Nhà xuất bản Văn hóa Thông tin ấn hành năm 2004). Xin đăng lại nội dung cuộc hội thảo quan trọng này.
Phần 1 mời đọc theo đường dẫn: http://vanhac.org/09/hoi-thao-khoa-hoc-ve-le-nghi-hoc-si-nguyen-thi-lo.html

II CÁC BÀI THAM LUẬN:
5. Nhân một vụ án
SUY NGHĨ VỀ TRÁCH NHIỆM NGƯỜI VIẾT SỬ

GS. ĐINH XUÂN LÂM
Phó Chủ tịch Hội Khoa học Lịch sử Việt Nam

Ngày mồng 4 tháng 8 năm NHÂM TUẤT (đối chiếu Dương lịch là năm 1442), vua Lê Thái Tông chết đột ngột tại TRẠI VẢI xã ĐẠI LẠI huyện GIA ĐỊNH (nay là GIA BÌNH) tỉnh BẮC NINH, trên đường từ CÔN SƠN (huyện CHÍ LINH, HẢI DƯƠNG) về Kinh thành THĂNG LONG.

Về sự kiện này, ĐẠI VIỆT SỬ KÝ TOÀN THƯ do sử gia NGÔ SỸ LIÊN chủ biên đã ghi vắn tắt như sau:

“Tháng 8, ngày mồng 4, vua đến vườn Lệ Chi huyện Gia Định, bỗng ác bệnh rồi băng. Trước đây vua thích vợ của Thừa chỉ Nguyễn Trãi là Nguyễn Thị Lộ, người đẹp, văn chương hay, gọi vào cung làm Lễ nghi Học sỹ, ngày đêm hầu ben cạnh. Đến khi đi tuần miền Đông, về đến vườn Lệ Chi xã Đại Lại bên sông Thiên Đức, vua thức suốt đêm với Nguyễn Thị Lộ, rồi băng. Các quan bí mật đưa về, ngày mồng 6 đến kinh sư, nửa đêm vào cung mới phát tang. Mọi người đều nói là Nguyễn Thị Lộ giết vua” (ĐVSKTT, tập 3, trang 131).

Dưới đó vài dòng lại viết:

“Ngày 16, giết Hành khiển Nguyễn Trãi và vợ là Nguyễn Thị Lộ, giết đến ba đời” (ĐVSKTT, như trên).

Căn cứ vào hai đoạn trích trên, người đọc có thể đặt ra mấy vấn đề sau đây:

Trước hết là Nguyễn Trãikhông có mặt tại nơi xảy ra vụ án 0 lúc này ông lui về ở ẩn tại CÔN SƠN để tránh những phiền toái nơi triều chính, thế thì muốn kết tội ông có liên quan đến việc giết vua với Nguyễn Thị Lộ thì phải có chứng cớ cụ thể, cần tiến hành điều tra xét xử công khai, không thể làm án ngay được. Thế mà tới ngày 16 (nghĩa là chỉ 12 ngày sau đó), cũng nên nhớ lúc này triều đình còn bận rộn việc làm tang cho vua Lê Thái Tông, bản án hành hình Nguyễn Trãi – Nguyễn Thị Lộ cùng ba họ đã được thi hành! Sự hấp tấp vội vã trong việc kết án đối với Khai quốc công thần Nguyễn Trãi và vợ là Nguyễn Thị Lộ cùng vợ con họ hàng quả là có gì bất thường, lộ rõ ý định xấu của bọn thù địch với Nguyễn Trãi muốn kết thúc vụ án có nhiều nghi vấn để bịt đầu mối. Đó là chưa nói tới ý định xấu xa của chúng là bằng cuộc tàn sát lớn này muốn đàn áp dư luận dân chúng vô cùng thương xiót và căm phẫn bất bình trước cái chết oan ức của vị anh hùng dân tộc và toàn gia.

Còn đối với Nguyễn Thị Lộ thì thái độ của người chép sử ra sao? Rõ ràng đây là một thái độ không khácg quan, thiên vị có dụng ý, ngay từ đầu đã lộ rõ ý định bằng bất cứ giá nào cũng phải giết cho được người phụ nữ mà chúng buộc phải công nhân là “người đẹp, văn chương hay”, khi chúng tung ra một dư luận ác độc có ý áp đặt, cả vú lấp miệng em mà thiếu một cơ sở điều tra cần thiết rằng “mọi người đều nói là Nguyễn Thị Lộ giết vua”!

Ở đây tôi không hoàn toàn có ý định phân tích mối quan hệ giữa Lê Thái Tông và Nguyễn Thị Lộ như có người đã làm, phần vì thiếu tư liệu cụ thể, nhưng chủ yếu vì xét ra không cần thiết. Chỉ với mấy lời ghi vắn tắt của chính sử triều Lê đã đủ buộc tội ông vua trẻ tuổi Lê Thái Tông rồi. Nào là “thích” vợ của Thừa chỉ Nguyễn Trãi, người đã đẹp, văn chương lại hay; rồi lấy cớ gọi vào cung để ngày đem hầu hạ bên cạnh, để rồi “thức suốt đêm” với Nguyễn Thị Lộ tại Trại Vải thì băng! Cách chép sử “nửa úp nửa mở” như vậy chỉ giúp cho bọn xấu trong triều vốn căm ghét Nguyễn Trãi dễ bề lũng đoạn vu khống ông, gây tình hình phức tạp cung đình mà sát hại công thần và dân lành. Sử sách cũ đã không cho biết Nguyễn Thị Lộ khi bị cực hình có buộc phải khai báo gì không? Và thái độ của Nguyễn Trãi ra sao? Duy có một điều có thể khẳng định được, đó là chủ mưu trọng vụ án này do bà Tuyên từ Hoàng Thái hậu NGUYỄN THỊ ANH cầm đầu, vốn rất oán ghét Nguyễn Trãi và Nguyễn Thị Lộ vì đã giúp cho phà phi NGÔ THỊ NGỌC DAO chạy thoát khỏi âm mưu sát hại của bà ta, nên abf ta dã dựng lên vụ án và sớm kết thúc vụ án có lợi cho bà ta.

Rõ ràng trong việc này, ngòi bút của sử quan (cụ thể là NGÔ SỸ LIÊN) đã không bảo đảm tính trung thực, tính khánh quan cần có, hay nói cách khác là trong trường hợp này sử quan đã chạy theo phái chiếm thế mạnh trong triều để bóp méo, xuyên tạc lịch sử!

Nhưng rồi cuối cùng sự thật lịch sử vẫn hiện rõ, chói loà ánh sáng. Chỉ 22 năm sau vụ án oan khốc Lệ Chi Viên, vào năm QUANG THUẬN thứ 5 (1464), ông vua mới là Lê Thánh Tông đã xuống chiếu tẩy oan cho Nguyễn Trãi, truy phong chức Đặc tiến Kim tử Vinh lộc Đại phu, tước Tán Trù bá. Và người con trai còn sống sót trong vụ thảm sát xưa kia, mai danh ẩn tích tận ngoài QUẢNG YÊN là NGUYỄN ANH VŨ trở về giữ chức Tri huyện.

Như vậy là Nguyễn Trãi đã bước đầu được chiêu tuyết, dù cho là chưa đúng mức với công lao từng đóng góp vào sự nghiệp giải phóng dân tộc và các chức vị đã từng được hưởng. Ông vua Thánh vẫn còn che dấu thủ phạm. Nhưng còn Nguyễn Thị Lộ – bà Lễ nghi Học sỹ “người đẹp, văn chương hay” thì tuyệt nhiên không được đề cập tới trong vụ án gọi là “sửa sai” của triều đinh! Có lẽ người ta cho rằng một khi Nguyễn Trãi được chiêu tuyết thì mặc nhiên là vụ án giết vua không có, và Nguyễn Thị Lộ trong vụ án đó cũng được xem là không có tội. Khi buộc tội thì gắn chặt Nguyễn Trãi – Nguyễn Thị Lộ xem như là đôi thủ phạm chính, nhưng khi xoá án thì lại chỉ nhắc tới Nguyễn Trãi. Phải chăng đó cũng là biểu hiện của tư tưởng coi thường, xem khinh nữ giới, mà không chịu tuyên bố công khai là mình đã phạm sai lầm đối với họ? Riêng đối với Nguyễn Thị Lộ thì có khác. Đây là một phụ nữ có tài, có sắc, lại có sự nghiệm giáo dục văn hoá trong triều, đồng thời cũng là cái cớ để bọn xấu hãm hại anh hùng dân tộc Nguyễn Trãi, phải có cách đối xử thích hợp. Cũng cần có sự “chiêu tuyết” công khai cho Bà, không thể để bà chỉ là cái bóng mờ nhạt của Nguyễn Trãi. Chế độ phong kiến đã không làm được việc đó thì ngày nay chúng ta phải làm việc đó thông qua việc nghiên cứu và biên soạn lịch sử dân tộc một cách trung thực và khoa học./

6. TRẮNG ÁN NGUYỄN THỊ LỘ
(Nỗi oan nghẽn tắc gần 600 năm!)

Nhà văn HOÀNG QUỐC HẢI

Vụ án Vườn Vải năm NHÂM TUẤT (1442), nhân việc Lê Thái Tông đi tuần thú miền Đông, đêm về ngủ tại Trại Vải, xã Đại Lai, huyện Gia Định (nay là GIA BÌNH), tỉnh BẮC NINH.

ĐẠI VIỆT SỬ KÝ TOÀN THƯ do sử gia NGÔ SỸ LIÊN chủ biến ghi như sau:

“Tháng 8, ngày mồng 4, vua đến vườn Lệ Chi huyện Gia Định, bỗng ác bệnh rồi băng. Trước đây vua thích vợ của Thừa chỉ Nguyễn Trãi là Nguyễn Thị Lộ, người đẹp, văn chương hay, gọi vào cung làm Lễ nghi Học sỹ, ngày đêm hầu ben cạnh. Đến khi đi tuần miền Đông, về đến vườn Lệ Chi xã Đại Lại bên sông Thiên Đức, vua thức suốt đêm với Nguyễn Thị Lộ, rồi băng. Các quan bí mật đưa về, ngày mồng 6 đến kinh sư, nửa đêm vào cung mới phát tang. Mọi người đều nói là Nguyễn Thị Lộ giết vua” (ĐVSKTT, tập 3, trang 131).

Cách đó vài dòng lại viết:

“Ngày 16, giết Hành khiển Nguyễn Trãi và vợ là Nguyễn Thị Lộ, giết đến ba đời” (ĐVSKTT, như trên).

Với hơn một trăm chữ của sử quan, ta thấy có mấy vấn đề đáng chú ý:

1. NGUYỄN THỊ LỘ là một NGƯỜI ĐẸP

2. NGUYỄN THỊ LỘ là một NGƯỜI TÀI vì “văn chương hay”.

3. NGUYỄN THỊ LỘ là một người có CHỨC TƯỚC vì được vua ban chức “Lễ nghi Học sỹ”.

4. Chi tiết NGÀY ĐÊM HẦU BÊN CẠNH để dẫn tới khi về vườn vải VUA THỨC SUỐT ĐÊM VỚI THỊ LỘ RỒI BĂNG.
Tất cả những tình tiết trên là án tích cực kỳ nguy hiểm cho một mưu đồ kinh thiên động địa, khiến chúng khẩu đồng tử: MỌI NGƯỜI ĐỀU NÓI NGUYỄN THỊ LỘ GIẾT VUA.

5. NGUYỄN THỊ LỘ dù là người tài sắc, nhưng vẫn là đàn bà, không thể có âm mưu đại sự. Kẻ chủ mưu ắt phải là NGUYỄN TRÃI.

Vì vậy, 10 ngày sau khi phát tang Lê Thái Tông thì triều đình “giết Hành khiển Nguyễn Trãi và vợ là Nguyễn Thị Lộ, giết đến ba đời”.

Thế là xong một vụ án. Triều đình nhà LÊ hoàn toàn phủi tay. Màn kịch được bố trí xem ra khá lố lang và chặt chẽ.

Song có nhiều điều hình như chưa ổn.

1. Về tuổi tác, tuổi của bà LỘ ít ra gấp đôi tuổi của Lê Nguyên Long (Lê Thái Tông)

Vì rằng Nguyễn Trãi khi ra mắt LÊ LỢI theo nhiều tài liệu có hai thời kỳ.

Thời kỳ thứu nhất Nguyễn Trãi vào Lam Sơn khoảng năm 1417, mục đích thăm dò xem thủ lĩnh nghĩa quân có đủ tư chất và đức độ để làm việc cứu nước không? Có đáng để ông gởi thân và tôn thờ làm minh chủ không?

Truyện dân gian kể rằng: Nguyễn Trãi nhìn thấy Lê Lợi vừa ngồi thái thịt, vừa bốc ăn nhồm nhoàm. Dáng dấp tướng mạo tựa như Lưu Bang. Ông thầm nghĩ, hạng người này hẹp hòi, chung hoạ thì được, chứ cùng hưởng phúc thì khôngthể. Vì vậy ông trở về ẩn náu tại thành Đông Quan và nghe ngóng.

Nhưng tin thắng trận dồn dập dội về, lực lượng nghĩa quân LAM SƠN ngày càng lớn mạnh, hào kiệt khắp nơi tìm đến. Giặc phải bị động đối phó với nghĩa quân.

Do đó, năm 1420, Nguyễn Trãi dẹp bỏ mọi điều nghi hoặc về tướng mạo và tư cách của LÊ LỢI. Lấy việc cứu nước làm trọng, nên ông lại tìm về LAM SƠN.

Lần này Nguyễn Trãi dâng LÊ LỢI “Bình Ngô sách”, với chiến lược “Tâm công”. Tức là chiến lược đánh vào lòng người, được Lê Lợi hào hứng đón nhận, và giữ luôn ông ở bên mình như một vị quân sư, để sớm hôm bàn kế đánh giặc.

Nguyễn Trãi vào LAM SƠN với cả người thiếp yêu là Nguyễn Thị Lộ.

Nguyễn Thị Lộ là một cô gái có nhan sắc, có học thức. Vừa gặp Nguyễn Trãi han bên đã tâm đồng ý hợp.

Đây là cuộc gặp gỡ giữa giai nhân và tài tử, hai bên đều xứng ý toại lòng. Không thể xem đây là một cuộc tình tạm bợ, bởi Nguyễn Trãi là một người kỹ tính, sinh ra để làm việc lớn, cho nên ông lấy bà Lộ về làm thiếp là để tri âm, tri kỷ. Do đó Nguyễn Thị Lộ khôngthể là một cô bé vị thành niên.

Ta lại giả thiết rằng Nguyễn Trãi gặp Nguyễn Thị Lộ vào khoảng từ năm 1415-1420. Tức là khi ông ở độ tuổi 35-40 và Nguyễn Thị Lộ cũng vào khoảng 20-25 tuổi. Tức hai người chênh nhau từ 10-15 tuổi.

Ta còn được biết, thái tử LÊ NGUYÊN LONG sinh năm Quý Mão (1423) tháng 11, ngày 20. Nếu khi tới Lam Sơn cùng Nguyễn Trãi, bà Nguyễn Thị Lộ 20 tuổi, thì bà hơn thái tử LÊ NGUYÊN LONG đúng 23 tuổi. Nếu tới Lam Sơn, bà Lộ ở tuổi 25 thì bà hơn thái tử tới 28 tuổi.

Và khi vua Lê Thái Tông (Lê Nguyên Long) mất ngày 4 tháng 8 năm 1442 thì nhà vua mới 18 tuổi 10 tháng 24 ngày.

Trong tiểu thuyết “Vằng vặc sao Khuê”, nhà văn HOÀNG CÔNG KHANH mô tả, Nguyễn Thị Lộ thường săn sóc, tắm rửa, bế ẵm hoàng tử Lê Nguyên Long với tình cảm như một người bảo mẫu. Tôi cho chi tiết nầy là có lý.

Có thể nào một ông vua mới lớn, lại ham hưởng lạc, chỉ hơn 18 tuổi đã lập tới 5 người vừa hoàng hậu vừa hoàng phi. Bọn này đua nhau cũng với lũ hoạn quan kéo bè kết cánh, làm loạn hậu cung. Đó là chưa kể tới hàng trăm cung nữ tuổi xuân hơ hớ hầu hạ nhà vua hết lòng.

Đặt sự việc Lê Thái Tông ăn nằm với Nguyễn Thị Lộ, khi bà đã 45 hoặc 50 tuổi, là một sự khiên cưỡng thái quá của các nhà viết sử thời Lê.

Chỉ có thể nói, vì cựu nghĩa, nên Thái Tông hàm cái ơn đó mà mời bà Lộ vào cung làm Lễ nghi Học sỹ là dạy phép tắc cho đám hậu phi biết lễ nghi, phép tắc. Còn một nhẽ nữa, bà Lộ là người tính tình nghiêm khắc, nên Thái Tông muốn nhờ bà rèn dạy đám hậu cung đang làm loạn, để đưa họ vào khuôn phép. Và nếu như Lê Thái Tông có gần gũi với bà là với tình cảm như một người bảo mẫu xưa, tựa như một người mẹ tinh thần thì đúng hơn một người tình.

Không một kẻ hiếu sắc trai trẻ nào lại si mê một bà bằng tuổi mẹ mình. Do đó không thể có chuyện tình ái giữa Lê Thái Tông và bà Lộ (tất nhiên là trong cuộc đời chuyện gì cũng có thể xảy ra, nhưng trương trường hợp này nó có ít khả năng).

Vậy mà sử quan vẫn lạnh lùng chép “ngày đêm hầu hạ bên cạnh” và “thức suốt đêm với Nguyễn Thị Lộ rồi băng”. Xem ra sử quan đã vượt lên trên cả sự phi lý và vô luân, để ghi cho bằng được nhưũng lời lẽ trên vào quốc sử.

Trước khi xảy ra sự bất hạnh này, Nguyễn Trãi đã nhìn thấu tim đen cả Đại ngự sử và các sử gia, nên ông than:

“Ai ai đều đã bằng câu kết
Nước chẳng còn có Sử Ngư”

Sử Ngư là nhà viết sử có lương tâm, có dũng khí của nước Lỗ, được Khổng Tử khen.

Nước chẳng có Sử Ngư, tức là khôngcòn sự khách quan và công bằng nữa. Bởi ai ai cũng phải uốn mình vào khuôn phép, bằng chằn chặn như những lưỡi câu cùng cờ.

2. Điều phi lý thứ hai là quàng lên đầu Nguyễn Trãi âm mưu giết vua.

Điều này khó thuyết phục quá. Bởi tác giả của “Bình Ngô sách” đã chủ trương đánh giặc bằng “Tâm công”, tức là đánh vào lòng người. Là chinh phục trái tim người ta, sao lại có chuyện mưu giết vua được. Vả lại, suốt đời Nguyễn Trãi không hề kéo bè kết cánh với bất kỳ người nào trong triều, thì làm sao có thể giết vua?

Giết vua để làm gì trong khi ông được nhà vua ưu ái, kính trọng.

Kể cả Học sỹ Nguyễn Thị Lộ và quan Thừa chỉ Nguyễn Trãi, chưa bao giờ được trọng dụng như dưới triều Lê Thái Tông. Ông đang có cơ may thi thố những điều sở nguyện.

Trong biểu tạ ơn Lê Thái Tông, Nguyễn Trãi đã nói khá rõ:

- Thương thần như ngựa đến tuổi già, còn ham rong ruổi
Cho thần như thông qua năm rét, còn rạn tuyết sương.

Quần ngôn mặc kẻ gièm pha
Thánh ý cứ bền tín nhiệm
Khiến cho suy nát trở lại quang hoa.
Chức giữ Đông đài thực hiện việc triều đình rất trọng,
Việc kiêm Tam quán ấy điều nho giả cực vinh.
Huống ban quốc tính để rạng tông môn,
Lại với công thần xếp cùng hàng liệt
Cảm mà chảy nước mắt, mừng mà sợ trong lòng.

Cuộc đời Nguyễn Trãi chưa bao giờ mãn nguyện như lúc này. Thế mà vu cho vợ chồng ông giết vua là điều thậm vô lý.

Vì sao triều đình nhà LÊ giết Nguyễn Trãi, Nguyễn Thị Lộ?

Thứ nhất:

Đa số tướng lĩnh Lam Sơn xuất thân từ ruộng đồng, nên họ không ưa gì một kẻ sĩ như Nguyễn Trãi.

Hơn nữa, Nguyễn Trãi tuy là người có học thức cao, nhưng về tụ nghĩa sau họ, thế mà suốt thời kháng chiến được LÊ LỢI ưu trọng. Mọi việc bang giao và văn thư giao tế đều do một tay ông chủ trương.

Hoà bình, các tướng tâm phúc quê Thanh ấy được LÊ LỢI trọng dụng. Bọn họ chỉ lo kết bè kéo cánh đục khoét dân và đua nhau hưởng lạc. Kiến thức họ không phân biệt nổi lục súc trong nhà, thế mà chúng lại xin vua cho sữa sang nền quốc nhạc.

Được vua hỏi đến, Nguyễn Trãi vừa vạch tội bọn này vừa tỏ nỗi bất bình: “Nay nhà vua để bọn bày tôi hèn mọn ở trong cung chuyên việc xếp đặt lễ nhạc, như vậy chẳng tủi nhục cho nước nhà lắm sao?” (ĐVSKTT).

Đối với bọn bất tài vô hạnh, đòi tham gia vào việc chấn chỉnh phong hoá, Nguyễn Trãi cho là nỗi nhục của nước. Bởi trước hết, ông bị xúc phạm nặng nề. Vì vậy, không nén nỗi lòng mình, ông thốt lời sỉ mắng bọn chúng.

Bọn chúng là ai? Đó là lũ công thần, luc cường thần đang nắm hầu hết các chức vụ then chốt trong triều, kể cả nắm binh lực.

Hầu như cả cái triều đình ấy không thể tha thứ cho Nguyễn Trãi được, bởi ông là một tài năng lớn, một nhân cách lớn. Triều đình ấy, thể chế ấy không thể dung dưỡng cho một người như ông.

Vì thế, khi còn sống, LÊ LỢI đã một lần tống ông vào ngục thất. Và một năm sau cuộc kháng chiến thắng lợi, Lê Thái Tổ (Lê Lợi) giết ngay vị đệ nhất khai quốc công thần, một bậc huân tướng lừng danh, đó là TRẦN NGUYÊN HÃN. Sau đó, LÊ LỢI giết luôn vị đệ nhị công thần, tướng PHẠM VĂN XẢO.

Thứ hai:

NGUYỄN TRÃI phải chết là vì ông đã dám can thiệp vào sự tranh giành quyền lực nơi hậu cung.

Đó là mâu thuẫn giữa NGUYỄN THỊ ANH và NGÔ THỊ NGỌC DAO.

THỊ ANH sinh BANG CƠ (sau là Lê Nhân Tông). NGỌC DAO sinh TƯ THÀNH (sau là Lê Thánh Tông).

Nguyên nhân sâu xa là bà NGỌC DAO đang có mang, nằm mơ thấy NGỌC HOÀNG sai một vị tiên đồng đầu thai vào bà. THỊ ANH sợ NGỌC DAO sinh quí tử, thì ngôi thái tử của BANG CƠ chắc phải lung lay, bèn tìm cách hãm hại. THỊ ANH đã vu cho NGỌC DAO có dính dáng đến vụ làm bùa phép của Huệ phi, có âm mưu làm hại thái tử BANG CƠ, và THỊ ANH xin THÁI TÔNG khép bà NGỌC DAO vào tội voi giầy.

Nguyễn Trãi và Nguyễn Thị Lộ ra sức cứu NGÔ THỊ NGỌC DAO, thuyết phục bằng được vua THÁI TÔNG cho dấu NGỌC DAO vào chùa HUY VĂN, ít lâu sau bà sinh hoàng tử TƯ THÀNH.

Để thoát khỏi sự theo dõi của tây chân của THỊ ANH và âm mưu hãm hại của thị, Nguyễn Trãi đã đưa mẹ con NGỌC DAO ra trú tại AN BANG (nơi Nguyễn Trãi đang cai quản).

Việc này rồi cũng đến tai THỊ ANH. Vậy là mối thâm thù giữa THỊ ANH và vợ chồng Nguyễn Trãi đã được xác lập.

Tới đây, nảy sinh một tình tiết nữa trong đường dây của vụ án. Tức là sau khi giết Nguyễn Trãi và Nguyễn Thị Lộ vào ngày 16 tháng 8, thì ngày 9 tháng 9 kế đó, THỊ ANH lại sai giết bọn hoạn quan là ĐINH PHÚC, ĐINH THẮNG.

Tại sao lại chỉ giết hai viên hoạn quan này. Phải chăng ĐINH PHÚC, ĐINH THẮNG giữ sổ theo dõi ngày, giờ vua nhập phòng với hậu nào, phi nào, để biết đứa trẻ sinh ra có đủ ngày, đủ tháng, có đúng là giọt “máu rồng” hay không?

Từ rất lâu, lần tìm trong lịch sử tới đoạn này, tôi thường bị nghẽn lối, vì không đủ tư liệu đi tiếp. Tôi chỉ phỏng đoán, cái chết của hai viên hoạn quan này nằm trong đường dây phá án. Nhưng đành bó tay.

May thay, gần đây có đọc bài viết của TS Sử học ĐINH CÔNG VĨ, nhân 560 năm ngày mất của Nguyễn Trãi. Ông sử dụng một chi tiết trong ngọc phả họ ĐINH, phần “Bút ký Hồng Mai”, Thái sư Lân quốc công ĐINH LIỆT có làm bài thơ như sau:

“Nhung tân lục cá nguyệt khai hoa
Bất thức hà nhân chủng bảo đa
Chủ khảo Tống Thai vi linh dược
Cự bình tân tửu thịnh y khoa”.

“Nhung tân” đọc lái là NHÂN TÔNG. Thịnh y nói lái là THỊ ANH.

Bài này tạm dịch:

“Nhân Tông sáu tháng đã ra hoa
Dòng máu ai đây quý báu à?
Núp bóng Thái Tông làm linh dược
Thị Anh dùng ngón đổi dòng cha?”

Chi tiết này nếu đủ tin cậy, thì đường dây vụ án có thể đi tiếp.

Bài thơ cho ta biết từ khi THÁI TÔNG nhập phòng với THỊ ANH, tức lúc y thị sinh BANG CƠ, chỉ có sáu tháng. Nếu đúng là con của THÁI TÔNG thì đứa trẻ bị đẻ non. Nền y học Việt Nam thế kỷ 15 không thể cứu được cái thai 6 tháng trở thành đứa trẻ khoẻ mạnh như BANG CƠ. Vậy BANG CƠ thuộc dòng máu khác. Nói cho đúng, THỊ ANH hoang thai.

Người ghi sổ việc này chắc chắn là hai viên hoạn quan ĐINH THẮNG, ĐINH PHÚC.

Vì vậy, sau khi giết vợ chồng Nguyễn Trãi, lại giết nốt hai hoạn quan ĐINH THẮNG, ĐINH PHÚC để bịt đầu mối. Cái chết của hai viên hoạn quan này là từ “khi Nguyễn Trãi sắp bị hành hình có nói là hối hận không nghe lời của Thắng, Phúc” (ĐVSKTT).

Nếu chi tiết này là tin cậy thì vụ án qui về kẻ chủ mưu giết Nguyễn Trãi – Nguyễn Thị Lộ là NGUYỄN THỊ ANH.

NGUYỄN THỊ ANH sinh BANG CƠ là con ngoại tình, nên thị phải thủ tiêu mọi nhân tố có thể gây nguy hoạ cho thị.

Vậy còn cái chết của THÁI TÔNG?

THÁI TÔNG tự làm mình chết, do đường xa mệt nhọc, uống rượu say, sinh hoạt tình dục thái quá nên kiệt sức mà chết, hay NGUYỄN THỊ ANH sai chân tay đầu độc?

Giết THÁI TÔNG, giết vợ chồng NGUYỄN TRÃI – NGUYỄN THỊ LỘ, giết luôn bọn hoạn quan ĐINH THẮNG, ĐINH PHÚC là triệt mọi nguôồnnguy hiểm đe doạn tính mạng y thị và ngôi báu của con y thị. Một khi còn ngôi báu, là còn quyền uy tối thượng, thị muốn cái gì mà chẳng được. Con mới hơn một tuôit, thị sẽ buông rèm thính chính, quyết sách trong triều thế nào là ở nơi thị và phe lũ.

Âm mưu này được thực hiện trót lọt, phải có sự liên kết giữa NGUYỄN THỊ ANH và phe đảng của thị trong triều.

Thật ra, nếu NGUYỄN THỊ ANH không nhúng tay vào vụ mưu sát Nguyễn Trãi, thì lũ nhặng xanh trong cái triều đình thối nát kia cũng giết ông. Bởi một lũ ngu, ác đầy quyền lực, mà nổi lên một nhà văn hoá lớn, một nhân cách sừng sừng như cây đại thụ giữa đám dây leo, tầm gửi hôi mù, đích thị người đó phải là kẻ xấu nhất, điên ròi nhất; kẻ ấy phải chết.

Rõ ràng là thời đại ấy, không chấp nhận nhân tài, không dung dưỡng hiền tài, mà kẻ khơi nguồn không ai khác chính là LÊ LỢI. Nó bắt đầu từ vụ LÊ THÁI TỔ giết TRẦN NGUYÊN HÃN, PHẠM VĂN XẢO.

Trong vụ án vườn Lệ Chi, tôi không tin một dòng, một chữ nào mà sử gia Ngô Sĩ Liên chép vào chính sử, trừ cái chết của Nguyễn Trãi, Nguyễn Thị Lộ. Bởi không những ông phải chịu sức ép nhiều bề, mà ngay cả nhân cách ông cũng không tin được. Điều đó được thể hiện khi ông phục vụ dưới triều Lê Thánh Tông, bằng những vụ ăn của đút qua các việc tiến cử người cùng phe cánh hoặc kẻ bất tài, vô hạnh vào chiếm chỗ trong triều.

Chính Lê Thánh Tông đã mắng nhiếc NGÔ SĨ LIÊN thậm tệ:

“Vua (Lê Thánh Tông) dụ bảo ngự sử đài là NGÔ SĨ LIÊN và NGHIÊM NHÂN THỌ rằng: Ta mới coi nhân sự, sửa đổi đức tính, tuân theo điển cũ của thánh tổ thần tôn nên mới đầu xuân tế giao, ngươi lại bảo là tổ tôn đặt ra tế giao cũng không đáng theo. Ngươi bào nước ta là hàng phiên bang đời xưa, thế là ngươi theo đạo chết, mang lòng không vua. Vả lại, khi Lệ-đức hầu Lê Nghi Dân cướp ngôi, SĨ LIÊN không giữ chức ngự sử đấy sao? Ưu đãi long trọng lắm. NHÂN THỌ không dự trong triều chính đấy sao? Chức nhiệm cao lắm. Nay Lệ-đức hầu bị tay ta mà mất nước, ngươi không biết vì lợi lộc mà chết theo, lại đi thờ ta. Nếu ta không nói ra, trong lòng ngươi không tự xấu hổ mà chết ư?” (ĐVSKTT).

Tư cách của sử quan và Đài ngự sử mà thế, thì chúng ta có quyền tin tưởng sâu sắc rằng, những điều họ chép ghi về vụ án Lệ Chị là dối trá. Điều này được chứng minh trong lời văn đại xá của LÊ NGHI DÂN sau khi y đã giết BANG CƠ. Trong đó y khẳng định: “… DIÊN NINH tự biết không phải là con của tiên đế…” (ĐVSKTT).

DIÊN NINH là niên hiẹu thứ hai của LÊ NHÂN TÔNG, cải từ năm GIÁP TUẤT (1454). NHÂN TÔNG chính là BANG CƠ, do NGUYỄN THỊ ANH sinh.

Việc này trong “ĐẠI VIỆT THÔNG SỬ” của LÊ QUÝ ĐÔN viết: “… NGUYỄN Thái hậu muốn giữ vững quyền vị, ngầm sai bọn nội quan là TẠ THANH dựng BANG CƠ làm vua, cho trầm làm Phiên vương. Đến sau TẠ THANH tiết lộ việc áy, việc lây đến Thái uý TRỊNH KHẢ, Tư khấu LÊ KHẮC PHỤC, họ bị đem giết cả để hết người nói ra… DIÊN NINH tự biết không phải là con tiên đế…”.

Tới đây, có thể xác nhận trở lại bài thơ trong ngọc phả nhà Lân quốc công ĐINH LIỆT, là chính xác. Nếu được công bố rộng rãi, chắc sẽ giúp ích cho việc nghiên cứu lịch sử.

Và như vậy, sự việc trở nên rõ ràng, bởi mọi âm mưu của NGUYỄN THỊ ANH đã hiển lộ.

Tuy nhiên, có một điều đau lòng là sử gia NGÔ SĨ LIÊN đã hạ một lời bình rất bất lương về bà NGUYỄN THỊ LỘ:

“Nữ sắc làm hại người quá lắm thay. THỊ LỘ là một người đàn bà thôi, THÁI TÔNG vì yêu nó mà thân phải chết, NGUYỄN TRÃI lấy nó mà ba họ bị diệt, chẳng nên răn lắm ư?”( ĐVSKTT).

NGUYỄN THỊ LỘ trước sau vẫn là nạn nhân của một giai đoạn lịch sử đáng ghê tởm. Thế mà gần 600 năm qua chưa một sử gia nào chiêu tuyết cho bà. Chẳng lẽ tất cả bọn họ đều bị NGÔ SĨ LIÊN mê hoặc sao? Tôi không tin như vậy. Nhưng tôi tin là họ vô tâm. Một sự vô tâm còn lớn hơn cả sự vô trách nhiệm.

May thay trên văn đàn vào hơn nửa thế kỷ trở lại đây, nhiều người quan tâm phanh phui vụ án vườn LỆ CHI.

Nhà dịch thuật và sáng tác HOÀNG HỮU ĐẢN đã viết vở kịch “Thảm án Lệ Chi Viên” từ năm 1983, đoạt giải thưởng kịch bản của Hội Nghệ sĩ sân khấu Việt Nam. Gần đây đoàn kịch thành phố Hò Chí Minh dàn dựng, công diễn nhiều đêm, gây tiếng vang đáng kể.

Thế nhưng, chia sẻ với học sĩ NGUYỄN THỊ LỘ một cách thâm trầm nhất, phục nữ nhất, tôi lại nghiêng về phía nữ sĩ NGÂN GIANG. Vậy mà chỉ gói gọn trong bốn câu thơ thôi:

Học sĩ cung vàng hương phấn dậy,
Lệ Chi vườn cũ gió mưa tôn.
Xe loan một tới nghìn thu hận,
Quốc sử âm thầm với nước non.

Chỉ hai câu cuối, NGÂN GIANG tóm đúng cái thần thái của sự việc.

Cái “xe loan” ấy, cái thứu xa giá ấy đi về đâu, về bất cử nẻo nào, nó cũng gieo rắc tai hoạ kinh hoàng xuống đám dân lành. Trong vụ này, tai hoạ mà nó gieo rắc đã trở thành mối hận cả ngàn năm không hoá giải.

Và cái thử “quốc sử âm thầm”, có nghĩa là sử ghi lén, ghi chui kia, làm sao mà “nước non” có thể tin nó được.

Đối với Nguyễn Trãi thì lịch sử ưu ái hơn. Nghĩa là chỉ 22 năm sau vụ án, vào năm QUANG THUẬN thứ 5 (1464), Lê Thánh Tông xuống chiếu tẩy oan cho ông, truy phong chức ĐẶC TIỀN KIM TỬ VINH LỘC ĐẠI PHU, tước TÁN TRÙ BÁ, và cho người con duy nhất còn sống sốt là NGUYỄN ANH VŨ làm chức Tri huyện.

Thực ra, tước mà Lê Thánh Tông phục phong chô Nguyễn Trãi vẫn còn kém một bậc so với Lê Thái Tổ (Lê Lợi) phong cho ông sau khi cuộc kháng chiến vừa thành công. Trước hết Lê Thái Tổ (Lê Lợi) ban cho ông quốc tính (họ vua). Nguyễn Trãi đổi thành Lê Trãi. Chức quan NHẬP NỘI HÀNH KHIỂN kiêm LẠI BỘ THƯỢNG THƯ quản công việc Cơ mật viện, tước QUANG PHỤC HẦU.

Áy là xuất phát từ việc Nguyễn Trãi – Nguyễn Thị Lộ vô tội, lại vừa là khai quốc công thần lại vừa có ơn cứu tử đối với mẹ con Lê Thánh Tông. Đủ chứng tỏ, giới cầm quyền không bao giờ chịu thừa nhận sai lầm của chúng.

Trong việc chiêu tuyết cho Nguyễn Trãi, có lẽ những gì mà nhà sử học TRẦN HUY LIỆU viết và đánh giá về ông là công bằng nhất.

Trên văn đàn nhiều sách viết về ông.

Mấy năm gần đây, lại mới xuất hiện cốn tiểu thuyết “Vằng vặc sao Khuê” hơn 700 trang của nhàvăn HOÀNG CÔNG KHANH, đoạt giải thưởng văn học của HỘI NÀH VĂN HÀ NỘI năm 2000, là một tác phẩm viết káh công phu, và đạt được sự công bằng lịch sử.

Người nước ngoài viết về Nguyễn Trãi, đáng khâm phục về độ dài tác phẩm, có nữ nhàvăn Pháp là bà Yveline Féray với cuốn tiểu chuyết “VẠN XUÂN” (DIX MILLE PRINTEMPS). Tất nhiên, tiểu thuyết này chưa phải là tác phẩm hoàn hảo. Nhưng đanh trân trọng. Hơn nữa, VẠN XUÂN có nhiều điều cần bàn và đáng bàn. Nhưng sao giới phê bình văn học, giới sử học và cả giới sáng tác văn học nước ta đều lảng tránh.

Sau rốt, tôi muốn nói đến một bài thơ của nhà văn HỨA VĂN ĐỊNH, viết về Nguyễn Trãi nhân dịp kỷ niệm 595 năm ngày sinh của ông. Bài thơ được viết tài tình ở chỗ, tác giả tạo ra được một mạch ngầm, tựa như tiếng thở dài đầy oán giận xuyên suốt 600 năm:

Gậy tiên đủng đỉnh bên khe
Cờ đời nửa ván sơn khê ngậm cười
Mười năm lau lách thay người
Vẫn không thoát khỏi luỵ đời vua tôi
Lưng ngay nên nỗi đầu rơi
Thơ hay nông nỗi không nơi nương mình
Bút lông nước mắt dân tình
Gươm triều đình chém, triều đình ban công
Máu lê dân nhạc trong lòng
Trống triều đình múa lộn vòng trầm luân
Nửa câu hay vạn kiếp gần
Nhát gươm suy chém một thân sá gì
Cúi đầu dọn lấy đường đi
Pháp trường đã sẵn từ khi hiểu đời
Yêu thương hoà lần tiếng cười
Nỗi oan Thị Lộ nỗi đời phù Lê.
Năm trăm năm – một giấc mê
Năm trăm năm lẻ sơn khê mỉm cười
Lau thưa thi thoảng bóng Người
Bàn cờ đứng ván giữa trời mưa sa.

Nỗi đau không thể hoá giải được qua vụ án LỆ CHI VIÊN, giai cấp thống trị triều Lê được lũ học giả bồi bút tiếp tay, lại phủ lên vụ án này bằng một huyền thoại đánh cắp muộn mằn của triều Minh về câu chuyện “Rắn báo oán” để che dấu tội ác của chính nó, xoa dịu nỗi đau của dân tộc.

Truyện “Rắn báo oán” ở nước ta, hẳn được sao chép vụng về và thay đổi một vài chi tiết, từ chuyện của một vị đại học sỹ, bị Minh Mục Tông phế bỏ, đó là ông Chu Tuệ gặp nàng Kiều Oanh đi bán hoa. Mọi tình tiết tiếp theo y hệt như nhau.

Gần 600 năm bị nghẽn tắc trong oan khuất đối với một người phụ nữ tài sắc vẹn toàn như bà Nguyễn Thị Lộ. Nếu lịch sử công bằng một chút, vâng, chỉ một chút thôi thì bà Nguyễn Thị Lộ không mãi mãi là cái bóng mờ nhạt bên cạnh Nguyễn Trãi.

Ta phải khẳng định, bà Nguyễn Thị Lộ có sự nghiệp riêng của bà. Nhưng chế độ phong kiến nhà Lê, không những chỉ thủ tiêu sự nghiệp mà còn thủ tiêu luôn cả sinh mệnh của bà.

Nhân đây tôi đề nghị giới văn học và sử học nước ta đuổi truyền thuyết “Rắn báo oán” ra khỏi lịch sử và văn học nước nhà, trả lại danh dự vốn có cho nữ học sỹ Nguyễn Thị Lộ.

About The Author

Number of Entries : 2265

Leave a Comment

© 2011 Powered By LenStudio.Net

Scroll to top