You Are Here: Home » Sự kiện, nhân vật, bình luận » Trao đổi cùng tác giả tiểu thuyết Nguyễn Thị Lộ

Trao đổi cùng tác giả tiểu thuyết Nguyễn Thị Lộ

 Duy Phi
Free Image Hosting at www.ImageShack.us

Vừa rồi, nhà văn Đặng Văn Sinh (ĐVS) lên tiếng, chỉ rõ: Nguyễn Thị Lộ – một tiểu thuyết hư cấu hạ thấp phẩm giá Nguyễn Trãi và Nguyễn Thị Lộ”.Tác giả Hà Văn Thuỳ có bài bác lại. Tiểu thuyết Nguyễn Thị Lộ của nhà văn Hà Văn Thùy (HVT), NXB Văn học ấn hành năm 2005. Nếu không có sách, có thể đọc ở HÀ VĂN THÙY, trên NEWVIETART.
Vui thay! Sau khi tự đánh giá tiểu thuyết của mình: Đây là lần đầu tiên hai vị (Nguyễn Trãi, Nguyễn Thị Lộ) hiện lên trong hình tượng văn học sâu sắc và trong sáng như vậy, tác giả còn dẫn ra một ý kiến nào đó, cho rằng bài của ĐVS: Đặc sệt giọng lưỡi một giáo viên dạy văn xoàng xĩnh và chẳng hiểu biết gì về sáng tạo văn học.
Ai đúng đây? Có thể dẫn lại mấy điểm trong bài của HVT, trên trannhuong.com ngày 23/ 2/ 2012. .
Trong bài của HVT trên trannhuong.com vừa rồi có những vấn đề bất ổn.
Ví dụ, HVT viết: Người phương tây có ngạn ngữ, khi không chặt được cánh tay đó thì hãy cầm lấy nó mà hôn! Do không thể bác bỏ được những dòng chính sử, tôi buộc phải chấp nhận nó như sự thực và mô tả trong sách của mình. Câu nói đó đúng ở đâu, chứ kẻ sĩ sao lại nghĩ thế, cái xấu khi chưa trừ bỏ được thì hãy cứ hôn chăng? Nếu là nghi án tội lỗi, chưa làm sáng tỏ thì hãy hy vọng nhiều đời sẽ sáng tỏ, hoặc cứ để trong nghi án chứ sao lại chấp nhận, vội đầu hàng, đồng loã…
HVT viết: Đúng là vua Thánh tông có trách cứ Ngô Sĩ Liên tội ăn của đút, tội “sự nhị quân” nhưng không hề quở trách ông trong việc viết sử. Điều này chứng tỏ ông không có lỗi ở chức phận sử gia. Ai dám chắc rằng,
Viên quan kia ăn của đút, không phải là của đút về việc viết sử? Căn cứ ở đâu dám võ đoán “ông không có lỗi ở chức phận sử gia “, khi viên sử quan ấy bị Lê Thánh Tông mắng về nhân cách.
Về cuộc Hội thảo khoa học về Lễ nghi học sĩ Nguyễn Thị Lộ tại xã Trần Phú, Khuyến Lương, Hà Nội phối hợp với Hội Sử học Việt Nam tổ chức ngày 19 tháng12 năm 2002, sau đó ra tập sách Lễ nghi Học sĩ Nguyễn Thị Lộ với thảm án Lệ Chi viên (Thảm án LCV), NXB VHTT năm 2004. HVT viết: Hội thảo Khoa học về bà Lộ được tổ chức, tôi quá mừng, hy vọng, với tầm học cao biết rộng của những bậc tài danh hôm nay, oan án sẽ được xóa! Nhưng rồi tôi thất vọng: chứng không có mà lý đưa ra lại quá tù mù!
Tôi có nghĩ khác với HVT. Tôi đã đọc nhiều lần cuốn Thảm án LCV, 528 trang khổ 14,5 X 20,5 (cm), thấy cái tâm của nhà giáo Hoàng Đạo Chúc chủ biên và thấy nhiều tham luận có sức thuyết phục. Đặc biệt là công trình của GS, TS, các nhà nghiên cứu: Đinh Công Vĩ, Mai Hồng, Nguyễn Ngọc Hiền, Nguyễn Văn Thành, Hoàng Quốc Hải… các trang: 118, 119, 169, 170, 193 có thơ của Đinh Liệt, các trang 207 đến 212, có bài hai bài thơ thể Tứ lục và Tứ lục biến hoá… Quê tôi rất gần Lệ Chi Viên, đã nhiều năm tôi sống ở Côn Sơn, do lòng ham mê lịch sử, tôi từng vượt sông Luộc mà đến Tân Lễ – quê sinh bà Lộ, đi Lam Kinh, về Khuyến Lương, Nhị Khê… , song đọc Thảm án LCV- cuốn sách sau Hội thảo về Nguyễn Trãi – Nguyễn Thị Lộ, hiểu biết về Nguyễn Trãi – Nguyễn Thị Lộ của tôi đã được bổ sung thêm nhiều. Phải chăng, ông HVT đã quá vội mà phủ định? Nếu ông HVT về Khuyến Lương (Hà Nội) thăm nơi xưa Góc thành Nam lều một gian, thăm nhà dạy học của Nguyễn Trãi và nhà ở của bà Lộ, nếu đọc kỹ những bài thơ chữ Nôm chữ Hán của Nguyễn Trãi và bà Lộ, hẳn HVT sễ không viết trong bài Phải chăng Hà Văn Thùy xúc phạm Nguyễn Trãi, Nguyễn Thị Lộ (Phải chăng… ) với cánh nhìn hơi bị… tàn nhẫn: Một điều cũng rất thực mà vì tế nhị, trong truyện tôi đã không cho nói ra từ miệng Nguyễn Trãi là, theo quan niệm đương thời, bà Lộ không phải chính thất mà chỉ là vợ lẽ, nàng hầu, một tài sản người đàn ông có thể mua bán đổi chác…
Thời Lê sơ, đầu thế kỷ XV có nhiều oan khuất: Tả tướng quốc Trần Nguyên Hãn bị sát hại năm 1431 (sai đã được sửa năm 1456), Thái Bảo Phạm Văn Xảo bị hãm hại năm 1432 ( đời Trần Nhân Tông được minh oan), Thừa chỉ Nguyễn Trãi bị trảm năm 1442 ( Lê Thánh Tông xuống chiếu minh oan, lại truy tặng ông: Tấm lòng sáng như sao Khuê…
Hồi ấy, hai chục năm sau, ông vua Thánh mới biết Nguyễn Trãi bị oan, chứ quan lại dân chúng nhận rõ ngay do sự rối ren nhũng loạn trong triều chính. Đại công thần Đinh Liệt, người phải đứng ra làm chánh án vụ xử Nguyễn Trãi thấy rõ oan mà đành bất lực. Ngay trong ngày Nguyễn Trãi bị trảm (16 tháng 8 năm 1442), Đinh Liệt đã làm bài thơ rồi giấu đi, (Bút ký Hồng Mai của Đinh Liệt bị thất lạc mấy thế kỷ, năm 1953 mới tìm thấy…), đến nay ta mới được đọc. Đinh Liệt gọi Nguyễn Trãi là quan gia, ông là chánh án nhưng không phải là Bao Công và than, chờ Bao Công còn xa lắm:
Khả tích quan gia mạc thức thời
Tru di tam tộc thị thương ôi!
Phá kính trung viên, hà thời giải
Bao Công, chân lý đẳng tương lai.
Dịch:
Quan gia đáng tiếc chẳng theo thời
Tam tộc chu di xót quá thôi
Gương vỡ bao giờ lành được nhỉ?
Bao Công, chân lý ngóng xa vời…
Trong triều, Hoàng hậu Thị Anh và thế lực hắc ám lấn át cả, đại công thần – chánh án Đinh Liệt chịu bó tay, Nguyễn Thiên Tích – bạn cố tri của Nguyễn Trãi, làm phán quan cũng bó tay… Sử gia thời Lê sơ không cùng đẳng cấp với các thái sử Đổng Hồ, Thôi Trữ xưa, đã ghi theo “lề phải”, chính thống.
Xử: Nguyễn Trãi dùng bà Lộ tiến độc vua là oan, “vua thức suốt đêm với Nguyễn Thị Lộ rồi băng”, xử trảm bà Lộ cũng là oan.
Xin nói rõ thêm, theo sử, ngày 3 tháng 8, vua dời Côn Sơn về kinh. Bà Lộ được đi hộ giá. Từ Lục Đầu Giang rẽ vào sông Thiên Đức (Đuống) thuyền rồng ngược dòng, nên luôn phải hàng chục phu thuyền dùng dây tam cố gò lưng mà kéo. Đến ngang xã Đại Toán thuộc Quế Võ thì phu kéo mãi thuyền không nhích lên được. Vua hỏi. Lương Dật (em nuôi Lương Đăng – viên quan chống Nguyễn Trãi quyết liệt) tâu: “Ngay trên bờ có Cầu Bông, cạnh cầu có mộ Bạch Sư rất thiêng, nếu không cúng sẽ nhiều trắc trở”. Tham tri chính sự Nguyễn Xí nói, không tin vào điều đó được, song vua lại truyền bảo: “Cho thuyền dừng, cắm trại, lệnh cho sở tại thịt nghé tơ để tế thần”. Mấy hôm liền, vua vẫn không được khoẻ. Đêm 4 tháng 8 vua về đến Lệ Chi Viên… Trong chuyến vua vi hành này, Hoàng hậu Thị Anh không có mặt, nhưng tất nhiên tất cả các quan và năm cung nữ bên vua đều là người của Thị Anh cả. Chỉ có bà Lộ một phía. Có việc gì qua mắt được cánh Nguyễn Xí, Tạ Thanh, Lương Dật, các cung nữ? Lại cùng đoàn lặng lẽ hồi kinh. Từ Lệ Chi Viên đến kinh đô chỉ chừng 45 cây số. Hồi ấy, đoàn xa giá phải đi cả ngày, đêm mồng 5, hết ngày mồng 6, nửa đêm mới vào cung, phát tang.Nếu bà Lộ có mưu giết vua, cớ sao khi vua đã băng, không trốn? Vì ngoại phạm, bà Lộ tự cho vô can mới không trốn. Từ đó, suy ra, ngay câu mà sử gia chép “vua thức suốt đêm với Nguyễn Thị Lộ rồi băng”, cũng là câu đã qua dàn dựng!
Có lẽ do quá say sưa với kiểu Eudipe mà tác giả tiểu thuyết Nguyễn Thị Lộ, đã tung hoành trong “trận bút” dẫn đến có lỗi với Nguyễn Trãi. Ví dụ, đoạn:
“Không cầm được lòng, nàng (bà Lộ) đặt lên trán chàng (vua, đáng tuổi con) nụ hôn nhẹ như thoáng qua… Tội lỗi, tội lỗi, nàng thầm nhủ. Nhưng sao lạ quá, một cái gì đó mới mẻ chưa bao giờ nàng thấy. Nó dữ dội nó bạo liệt như xoáy lốc cuốn nàng bay vút lên tới tận trời xanh, toàn thân nàng đê mê như tan ra, nàng như muốn ngộp thở, nàng kiệt sức ngất đi… Tình yêu là như vậy sao? Nàng tự hỏi. Thật khác xa những gì nàng đã có với Nguyễn Trãi…”. (chương 4).
Đúng như ĐVS nhận định, những đoạn như thế này có hạ thấp cả Nguyễn Trãi và Nguyễn Thị Lộ.
Viết tiểu thuyết lịch sử là khó, viết về thiên cổ kỳ án Lệ Chi Viên lại càng khó. Nhà văn Hà Văn Thùy viết tiểu thuyết lịch sử về Nguyễn Trãi và Nguyễn Thị Lộ khởi nguồn từ niềm yêu kính hai danh nhân, đã xuất bản, có sự thành công nhất định. Song, tác phẩm còn phải tiếp tục đối diện với lịch sử, thi pháp, bạn đọc…
D.P

Nguồn: trannhuong.com

About The Author

Number of Entries : 2287

Comments (5)

  • Người yêu kính tiền nhân

    Mời quí vị đọc theo đường dẫn này để có thêm cứ liệu. Trân Trọng

    http://vanhac.org/09/hoi-thao-khoa-hoc-ve-le-nghi-hoc-si-nguyen-thi-lo.html

  • haixuan

    Mong muốn chủ nhà cho đọc bài phản biện của Hà Văn Thuỳ.
    Xim cảm ơn

  • Trần Vân Hạc

    Mời bác Hai Xuân cùng bạn đọc đọc bài của Hà Văn Thùy trên trannhuong.com:
    PHẢI CHĂNG HÀ VĂN THÙY XÚC PHẠM NGUYỄN TRÃI, NGUYỄN THỊ LỘ
    Hà Văn Thùy

    TNc: Cuốn tiểu thuyết Nguyễn Thị Lộ của Hà Văn Thùy được nhiều ý kiến khen chê. Mới đây trên trang nhà, chúng tôi đã đăng ý kiến của nhà văn Đặng Văn Sinh. Hôm nay chúng tôi nhận được bài viết của tác giả Hà Văn Thùy có lời đáp lại…

    Cảm ơn nhà văn Đặng Văn Sinh đã đọc và bình cuốn sách còm của tôi. Suy nghĩ như vậy không phải của riêng ông mà của cả trường phái khá đông đảo những người không chấp nhận chuyện ấy trong cuộc đời Nguyễn Thị Lộ.
    Xin thưa, kẻ viết những dòng này cũng từng ở trong trường phái đó. Suốt thời trẻ của mình, tôi ngưỡng vọng Nguyễn Trãi như vầng sao Mai tinh khôi không vết gợn. Vì vậy khi biết câu chuyện nọ, tôi bị sốc, cố tình không tin, mong có một phép màu thanh tẩy được những dòng chữ đau lòng trong chính sử. Hơn một lần tôi tự đặt mình vào vị trí quan tòa để xử lại vụ án. Chỉ cần một chứng cứ khả dĩ, tôi sẽ sung sướng nhân danh công lý, tuyên trắng án! Hội thảo Khoa học về bà Lộ được tổ chức, tôi quá mừng, hy vọng, với tầm học cao biết rộng của những bậc tài danh hôm nay, oan án sẽ được xóa! Nhưng rồi tôi thất vọng: chứng không có mà lý đưa ra lại quá tù mù!

    Cái đinh to nhất mà quý vị học giả trước đây và cả tác giả Đặng Văn Sinh hôm nay bám vào là lý sự: ông vua trẻ với năm vợ đẹp và một đống cung tần, không thể nào lại yêu một người đàn bà bằng tuổi mẹ mình!

    Tôn trọng niềm mê tín của quý vị nhưng cuộc đời có thực tế riêng của nó. Hai ngàn năm sau Eudipe, con người còn chứng kiến biết bao chuyện Eudipe nữa? Và cũng đã xuất hiện biết bao chồng trẻ vợ già. Cách đây không lâu, truyền thông thế giới đăng tải câu chuyện chàng trai ba mươi lấy cụ bà chín chục. “Chúng tôi hạnh phúc, bà cụ nói. Jack yêu tôi thực lòng chứ không chỉ yêu tài sản của tôi.” Bản thân tôi nhỡn tiền chứng kiến chuyện ở Rạch Giá: Một bé trai, mẹ qua đời, được gửi cho người mợ ruột nuôi để bú chung với em gái mới sinh. Khi lớn lên, đứa cháu trai có quan hệ không bình thường với mợ. Để ngăn chặn điều xấu, gia đình cưới vợ cho anh ta. Nhưng anh chàng không ngó ngàng tới vợ mà chỉ tìm cách chung chạ với mợ. Kết cục là vợ anh ta ra đi. Ông cậu bỏ nhà lấy người khác. Em gái đi lấy chồng. Người mợ cùng cháu trai ở với nhau như chồng vợ. Nay họ còn sống, người mợ ngót bảy mươi, cháu trai gần năm chục. Câu chuyện này có hai căn nguyên sâu xa. Ở chàng trai là mặc cảm Eudipe: Tình yêu mẹ chuyển sang người đàn bà – mẹ nhưng không cùng huyết thống! Với người mợ, một người trưởng thành, bị ràng buộc bởi nhiều quan hệ chồng, con, bố, mẹ…nhưng vì sao bà ta vẫn muối mặt làm cái việc loạn luân trái đạo? Không thể nào giải thích khác, là sự trộn lẫn mặc cảm Eudipe với hấp lực tình dục ghê gớm của chàng trai mới lớn?!

    Sự việc trên, có thể soi chiếu vào vụ bà Lộ và Lê Thái tông. Lẽ đời là thiếu cái gì người ta cần cái ấy. Ông vua trẻ thừa mứa tài sản, danh vọng, quyền lực và gái trẻ… Cái thiếu nhất của chàng trai là người mẹ, là tình mẫu tử. Trong uẩn ức sâu xa, hình ảnh người mẹ hiện trong sương khói rồi biến mất là nỗi ám ảnh khôn nguôi. Nó thôi thúc con người bất hạnh đi tìm cái thiếu ấy. Sau những căng thẳng triều chính, lúc về cung lại mệt mỏi vì vợ nọ con kia ghen tuông hờn giận… Trong khủng hoảng tâm lý ở tuổi mới lớn, chàng trai cần một chốn riêng để nương tựa. Đã bao lần ta tìm về với mẹ hiền trong tâm trạng như thế! Nhưng chàng trai đơn côi biết tìm đâu?

    Người duy nhất có thể cho chàng cái chàng thiếu là bà Lộ. Ở tuổi tác, ở gia thế, ở học vấn và đức hạnh, bà Lộ xứng đáng là bậc mẫu nghi thiên hạ. Vào cung là việc bà không mong nhưng bất khả kháng. Lúc mới vào cung, không ai nghĩ rằng chuyện như thế có thể xảy ra bởi lẽ bà đã lớn tuổi, lại là người đoan trang mẫu mực.

    Ở tuổi bà Lộ, ước vọng lớn lao nhất là được làm mẹ. Có thể thầm kín nơi trái tim, Bà ao ước ông vua côi cút đáng thương mà ngày nào đã từng cưng chiều là con mình. Thật tự nhiên, bà coi mình như người mẹ tinh thần của nhà vua vua trẻ. Sự nghiêm cẩn giữ gìn trong đạo quân thần, những lời khuyên, lời trách nhẹ nhàng giầu nữ tính của bà vô tình tác động ma mị lên nhà vua. Như người đang đi giữa nắng gặp bóng râm. Như con thuyền đang trong sóng gió tìm được bến đỗ… Chàng nhận ra, đó là cái tình mẫu tử sâu xa mà chàng khao khát. Đến với bà Lộ, chàng được trở về với cõi yên bình. Tâm tĩnh lại, thần sáng ra… Rồi một lúc nào đó, chàng trai nhận ra cái hấp lực đàn bà nơi người mẹ tinh thần. Nó kỳ ảo, lạ lùng nên mãnh liệt hơn vạn lần những phi tần, cung nữ trẻ mà chàng thừa mứa. Nếu cái hấp dẫn của tuổi trẻ là tân thì ở tuổi hồi xuân lại là thục. Người ta háo hức đến với cái tân nhưng rồi ở lại cùng cái thục, sự chín mõm mòm của tình đời lẫn tình dục! Vì vậy chuyện gì phải đến đã đến…

    Trong quan chế triều Lê, chức Chiêu nghi của bà Lộ ở bậc thứ chín thuộc hàng cung tần, dưới bậc phi. Bà phi Dương Thị Bí khi bị giáng cũng xuống chức này. Như vậy có nghĩa, bà Lộ cũng là đối tượng nhà vua có thể tùy nghi sử dụng! Nhà Văn Đặng Văn Sinh cho rằng, quan chế triều Lê không cho phép bà Lộ ở trong cung, rồi người như bà không thể đứng ra làm nhạc…Quan chế chẳng phải do con người đặt ra sao? Một khi đã đặt ra được thì người ta cũng vi phạm được, nhất là với ông vua trẻ ít học, hoang đàng, không bị bất cứ điều gì kiềm tỏa! Hơn nữa, mấy đời đầu nhà Tiền Lê triều cương đã có gì nghiêm cẩn? Chả thế mà hoạn quan đứng ra làm nhạc rồi giữa triều chửi thẳng vào mặt quan đại phu! Tiếp đó là loạn Nghi Dân… Trong hoàn cảnh đó cái gì mà chẳng có thể xảy ra? Một điều cũng rất thực mà vì tế nhị, trong truyện tôi đã không cho nói ra từ miệng Nguyễn Trãi là, theo quan niệm đương thời, bà Lộ không phải chính thất mà chỉ là vợ lẽ, nàng hầu, một tài sản người đàn ông có thể mua bán đổi chác. Do đó, về mặt chính danh, trong chuyện này, nỗi đau của Nguyễn Trãi phần nào vơi nhẹ và người đời cũng không nặng nề lắm với ông!

    Đúng là vua Thánh tông có trách cứ Ngô Sĩ Liên tội ăn của đút, tội “sự nhị quân” nhưng không hề quở trách ông trong việc viết sử. Điều này chứng tỏ ông không có lỗi ở chức phận sử gia. Viết biên niên là viết ngay khi sự việc vừa xảy ra. Nếu xu thời, ông có thể viết như lời buộc tội của triều đình. Hoặc an toàn hơn, viết: “Nhà vua bị cảm rồi băng”. Dám viết “thức suốt đêm với Thị Lộ…” là thể hiện bản lĩnh của sử gia lớn. Ông hiểu sâu sắc rằng, chỉ có viết sự thực mới bảo vệ được mình. Nếu vì lẽ đó mà chết thì cũng chết trong danh dự. Giống như câu chuyện anh em nhà Thái sử nước Tề xưa, kẻ muốn giết ông sẽ vì sợ mang tiếng hôn quân mà dừng tay! Ai nghi ngờ phẩm chất sử gia của ông, xin hãy đọc: “Ngày mười ba chém Thiếu úy Lê Lai vì cậy có công nói những điều khinh xuất.” Tháng Giêng năm 1427, ngay trước cuộc giải phóng thành Thăng Long mà dám viết những dòng tố cáo Thái tổ sắc lạnh như dao chém đá ấy hẳn không phải người tầm thường! Liệu ai dám cả gan bịa ra chuyện động trời nhà vua gian díu với vợ công thần, đáng tuổi mẹ mình rồi ghi vào chính sử? Đấy không phải chuyện đùa, không chỉ trái với chức trách, lương tâm người viết sử mà còn là tội khi quân dẫn tới đầu rơi máu chảy! Vì vậy, tôi tin đó là sự thực. Không ai có thể xóa nổi dòng chữ mà sử gia Ngô Sĩ Liên đã viết. Những chuyện xôn xao qua hội thảo kia chỉ là làn gió nhẹ làm lăn tăn mặt nước hồ. Điều này tôi đã trình bày trong bài Cái gọi là “Trắng án Nguyễn Thị Lộ” (Góp với văn đàn. Văn học, 2006). Ngay Giáo sư Phan Huy Lê, trong bản tham luận quan trọng đọc ở Hội thảo ấy cũng đã nhận xét một cách thận trọng: “Qua kết quả khảo sát của nhiều nhà khoa học cũng không bổ sung thêm được bao nhiêu hiểu biết về hành trạng và sáng tác của bà.” Với chứng lý như vậy mà quý vị đòi xóa bỏ quốc sử từng tồn tại ngót 600 năm thật là chuyện tầm phào!

    Người phương tây có ngạn ngữ: “Khi không chặt được cánh tay đó thì hãy cầm lấy nó mà hôn!” Do không thể bác bỏ được những dòng chính sử, tôi buộc phải chấp nhận nó như sự thực và mô tả trong sách của mình.
    Cuốn tiểu thuyết đã thể hiện những phẩm chất tốt đẹp nhất mà Nguyễn Trãi và Nguyễn Thị Lộ có thể có trong hoàn cảnh của mình! Ngay cả mối quan hệ của bà Lộ với vua Thái tông vốn bị coi là xấu xa, cũng được nâng lên tầm cao nhân văn. Tôi thuyết phục người đọc tin rằng, cái tình yêu “trái đạo lý” ấy đã giúp cải hóa ông vua trẻ hoang đàng thành vị minh quân, mang lại phúc cho dân cho nước. Như trong lời tựa đã viết, Nguyễn Trãi không cần ai thanh minh cho ông mà cần sự cảm thông, thấu hiểu. Chắc chắn rằng vong linh hai vị cùng hầu hết bạn đọc đã gặp niềm thông cảm và thấu hiểu của tôi!

    Có thể khẳng định rằng, tuy đã nhiều người viết về Nguyễn Trãi và Nguyễn Thị Lộ nhưng đây là lần đầu tiên hai vị hiện lên trong hình tượng văn học sâu sắc và trong sáng như vậy.
    Quả là không thể hiểu được vì sao cuốn tiểu thuyết lại bị coi là hạ thấp phẩm giá Nguyễn Trãi và Nguyễn Thị Lộ?!
    Đáng tiếc, cách nhìn của nhà văn Đặng Văn Sinh cũng chính là quan điểm của Hội Nhà văn Việt Nam thông qua Ban chung khảo cuộc thi tiểu thuyết 2005-2010.
    Tháng Năm 2011, tới nghĩa trang Bình Hưng Hòa đưa tiễn nhà văn Trần Hoài Dương, tôi gặp nhà thơ Nguyễn Vũ Tiềm. Anh hỏi:
    – Ông có cuốn tiểu thuyết viết về Nguyễn Thị Lộ hay lắm phải không? Đáng lẽ được giải nhưng do xúc phạm Nguyễn Trãi nên bị trượt.
    - Ai nói với anh như vậy? Tôi hỏi lại.
    - Tôi nghe ai đó, một người trong ban giám khảo nói, nhưng lâu rồi, quên không nhớ ai nữa.
    Như một sự khám phá, tôi hiểu ra người ta đánh giá sách của mình như vậy! Tôi nói với nhà thơ:
    - Hay thì không dám nói nhưng chắc chắn cuốn sách đó không xúc phạm Nguyễn Trãi cũng như Nguyễn Thị Lộ.
    Khi ra về, chúng tôi đi cùng nhà thơ Lê Thiếu Nhơn. Tôi hỏi:
    - Nhơn đọc Nguyễn Thị Lộ của mình chưa?
    - Có, em đọc rồi chứ!
    - Nó có xúc phạm Nguyễn Trãi và Nguyễn Thị Lộ không?
    - Không hề! Lẽ ra cuốn đó phải được giải!” Nhơn nói.

    Khoảng tháng Sáu năm 2007 tôi tới thăm nhà văn Nguyễn Khải ở Bệnh viện Thống Nhất, định tặng sách và nói với ông đôi lời. “Chú nói ngắn để bố cháu nghỉ, bố cháu đang mệt.” Con gái ông nói. Chưa mở miệng đã bị chẹn họng, tôi cứng lưỡi, không muốn nói gì nữa, đành đưa sách cho ông rồi chào ông ra về. Cho rằng, với sức khỏe như thế, ông sẽ chẳng bao giờ đọc nó, tôi cũng quên đi. Mấy tháng sau bất ngờ tôi nhận được điện thoại:
    - Hà Văn Thùy phải không? Nguyễn Khải đây! Tôi phải hỏi thăm cô Kim Anh báo Văn nghệ mới biết số máy của ông. Tôi đọc Nguyễn Thị Lộ của ông rồi. Viết được đấy!

    Quá bất ngờ, tôi chưa kịp cảm ơn thì ông buông máy! Ít lâu sau ông qua đời.
    Mới đây từ Hà Nội, nhà văn Xuân Cang gửi điện thư: “Do cuộc hội thảo về Bà Lộ ở Khuyến Lương, tôi với bà Chiêu (vợ ông) đọc lại Nguyễn Thị Lộ của Thùy. Sách hay!”

    Không phải khoe mà tôi đưa ra một vài tiếng nói trái chiều với nhận định chính thống của Cục Viết văn Việt Nam.
    Trang mạng trannhuong.com và vanchuongviet.org, nơi đăng bài của nhà văn Đặng Văn Sinh là những mạng “chay” vì không có phần bình luận. Muốn xem độc giả phản ứng ra sao, tôi tìm trên google và cho tới khi viết những dòng này (22. 2. 2012) thì chỉ gặp duy nhất trang van chuong + (http://vanchuongplusvn.blogspot.com/2012/02/ang-van-sinh-nguyen-thi-loi-mot-tieu.html)
    với duy nhất một bình luận:
    Người yêu lịch sử Feb 16, 2012 07:21 AM
    Đặc sệt giọng lưỡi một giáo viên dạy văn xoàng xĩnh và chẳng hiểu biết gì về sáng tạo văn học.

    Không biết nhận định như vậy có xác đáng không?
    Phú Thọ Hòa, 22. 2. 2012

  • Trần Vân Hạc

    Đây là bài của Đặng Văn Sinh trên trannhuong.com:
    “NGUYỄN THỊ LỘ” MỘT CUỐN TIỂU THUYẾT HƯ CẤU HẠ THẤP PHẨM GIÁ NGUYỄN TRÃI, NGUYỄN THỊ LỘ
    Đặng Văn Sinh

    Từ đầu thế kỷ XX đến nay, Vụ án Lệ Chi Viên đã được một số tác giả đề cập đến dưới dạng biên khảo, truyện và thơ. Chúng tôi có nhận xét chung là, cho dù xuất hiện dưới hình thức nào, cuối cùng, phần lớn tác phẩm đều quy chiếu về một điểm, đây là một vụ án oan dẫn đến họa tru di đại gia đình Nguyễn Trãi mà nhân vật chính được coi là người gây ra cái chết của mấy chục nạn nhân là Nguyễn Thị Lộ. Chuyện này không lạ, bởi nó đã được Ngô Sĩ Liên (hoặc một sử gia nào đó sau Ngô Sĩ Liên, theo quan điểm của Phan Huy Lê) chép trong Đại Việt sử ký toàn thư. Vì thế, không ít người lấy Quốc sử thời Lê sơ làm cơ sở, một mặt đề cao nhân cách Nguyễn Trãi, mặt khác lại phỉ báng Nguyễn Thị Lộ, thậm chí còn bịa ra cả huyền thoại rắn báo oán để gán tội cho một người phụ nữ tài hoa, từng đảm nhiệm chức Lễ nghi học sĩ trong triều Lê Thái Tông.
    Ngô Sĩ Liên đã làm một việc khá hồ đồ là đóng đinh vụ kỳ án vào lịch sử, không cho Nguyễn Thị Lộ được thanh minh, nhưng hậu thế chiêu tuyết cho bà. Những năm gần đây đã có những công trình nghiên cứu nghiêm túc về thân thế sự nghiệp Nguyễn Thị Lộ, trong đó có cả một cuội hội thảo tầm cỡ quốc gia đã phát hiện được nhiều tư liệu giá trị về vị nữ học sĩ tài danh đã một thời làm nghề bán chiếu gon ở kinh thành Thăng Long. Những bí mật vụ án Vườn vải Gia Định từng bước được khai mở, và người ta dần dần hiểu được, những kẻ nào đã thao túng triều cương, đạo diễn vở bi kịch chính trị đẫm máu nửa đầu thế kỷ XV.
    Tác phẩm viết về vị Lễ nghi học sĩ tài danh gần đây nhất là tiểu thuyết Nguyễn Thị Lộ của nhà văn Hà Văn Thùy do NXB Văn học ấn hành vào năm 2005. Xét về mặt hình thức, Nguyễn Thị Lộ là một tiểu thuyết lịch sử gần đúng nghĩa, bởi tác giả ít nhiều đã tạo được không khí lịch sử thời Lê sơ qua cách xử lý không gian, ngôn ngữ và những nét đặc trưng tâm lý nhân vật. Nói cách khác, với bút pháp riêng của mình, Hà Văn Thùy đã làm sống lại một giai đoạn lịch sử, tạo nên văn bản nghệ thuật có tính gợi mở, mặt khác, ông góp phần làm sáng tỏ những điểm còn mù mờ trong nội bộ triều Lê, cung cấp cho người đọc một cái nhìn mới về Vụ án Lệ Chi Viên.
    Về mặt kết cấu, tác phẩm chia làm 8 chương, ở phần cuối còn có một Vĩ thanh (phần này không có trong văn bản do NXB Văn học ấn hành), mỗi chương đều gài một vài chi tiết quan trọng dẫn người đọc đi dần đến vụ thảm án bằng thứ ngôn ngữ giàu chất thơ, đậm hình ảnh, đặc biệt hấp dẫn với những bạn đọc… không khó tính.
    Đọc Nguyễn Thị Lộ, chúng ta dễ bị thuyết phục, đôi khi còn như bị thôi miên bởi không ít những lý lẽ Hà Văn Thùy đưa ra biện minh cho cuộc tình vụng trộm giữa Lê Thái Tông với bà Lễ nghi học sĩ. Một khi đã bị tác giả lừa vào mê cung tình ái bằng những trường đoạn phân tích diễn biến tâm lý ngọt ngào, mùi mẫn, bạn đọc sẽ dễ dàng mất cảnh giác, buông lỏng lý trí, sẵn sàng đồng hành với tác giả trong cuộc phiêu lưu vô tiền khoáng hậu. Tuy nhiên không thể trách tác giả về mặt diễn biến cốt truyện, bởi có vẻ như ông đã tôn trọng sự thật lịch sử, tuy đó là thứ lịch sử không mấy tin cậy được viết dưới áp lực của một nhóm quyền thần sau khi đã thanh toán vợ chồng Nguyễn Trãi, đang ở thế thượng phong, có thể nhổ toẹt cả vào Quốc sử.
    Nhưng chính vì quá lệ thuộc vào lịch sử, quá tin vào sự trung thực của các sử quan, Hà Văn Thùy đã vô tình rơi vào cái bẫy của đám lộng thần. Chính vì thế, cuốn tiểu thuyết tuy có nhiều chương ca ngợi Nguyễn Trãi và Nguyễn Thị Lộ, nhưng xét về mặt tổng quát, tác giả lại hạ nhục họ bằng cách biện hộ cho cho cuộc dan díu vô luân của Lê Thái Tông với bà Lễ nghi học sĩ.
    Căn cứ trên văn bản, Đại Việt sử ký toàn thư chép sự kiện Lệ Chi Viên khá mập mờ, có những điểm rất đáng nghi, nhưng việc kết tội Nguyễn Thị Lộ là chắc chắn :Trước đây vua thích vợ của Thừa chỉ Nguyễn Trãi là Nguyễn Thị Lộ người rất đẹp, văn chương rất hay, gọi vào cung phong làm Lễ nghi học sĩ, ngày đêm hầu cận bên cạnh. Đến khi đi tuần miền Đông, xa giá về tới vườn vải, xã Đại Lại ven sông Thiên Đức, vua thức suốt đêm với Nguyễn Thị Lộ rồi băng, các quan bí mật đưa về. Ngày mồng 6 về tới kinh, nửa đêm đem vào cung rồi mới phát tang. Mọi người đều nói là Nguyễn Thị Lộ giết vua”( Đại Việt Sử Ký toàn thư, bản kỉ thực lục, quyển XI ). Vậy mà Hà Văn Thùy để cho Lê Thánh Tông khen Ngô Sĩ Liên :Giỏi, giỏi! (…) Đáng mặt sử gia! Khanh đã viết đúng như sự việc xảy ra… (Chương 8).
    Trong cuộc Hội thảo khoa học về Lễ nghi học sĩ Nguyễn Thị Lộ do đảng ủy xã Trần Phú, Khuyến Lương, Hà Nội phối hợp với Hội Sử học Việt Nam tổ chức ngày 19 tháng12 năm 2002, sau đó ra đời tập Kỷ yếu nhan đề Lễ nghi Học sĩ Nguyễn Thị Lộ với thảm án Lệ Chi viên, có khá nhiều bản tham luận nghi ngờ tính trung thực của sử gia Ngô Sĩ Liên, mà một trong những người phản biện mạnh mẽ nhất là nhà văn Hoàng Quốc Hải với bài Trắng án Nguyễn Thị Lộ. Trong đó, ông dẫn ra đoạn Lê Thánh Tông trách mắng thậm tệ Ngô Sĩ Liên :Vua dụ bảo Đô Ngự sử đài là Ngô Sĩ Liên và Nghiên Nhân Thọ rằng:Ta mới coi nhân sự, sửa đổi đức tính, tuân theo điển cũ của thánh tổ thần tôn nên mới đầu xuân tế Giao, ngươi lại bảo tổ tông đặt ra tế Giao cũng không đáng theo. Ngươi bảo nước ta là hàng phiên bang đời xưa, thế là ngươi theo đạo chết, mang lòng không vua. Vả lại, Khi Lệ Đức hầu (Nghi Dân) cướp ngôi, Sĩ Liên không giữ chức Ngự sử đấy sao? Chức nhiệm cao lắm. Nay Lệ Đức hầu bị tay ta mà mất nước, ngươi không biết vì lợi lộc mà chết theo, lại đi thờ ta. Nếu ta không nói ra, trong lòng ngươi không tự xấu hổ mà chết ư? (Đại Việt sử ký toàn thư, tập 3, trang 180, bản dịch), rồi kết luận :Tư cách của sử quan và Đài Ngự sử như thế thì chúng ta có quyền tin tưởng sâu sắc rằng, những điều họ chép ghi trong Vụ án Vườn Lệ Chi là dối trá. Điều này được chứng minh trong lời văn Đại xá của Lê Nghi Dân sau khi đã giết Bang Cơ. Trong đó Nghi Dân khẳng định :… Diên Ninh tự biết mình không phải là con của Tiên đế… (Đại Việt thông sử, trang 226, bản dịch).
    Nếu chỉ căn cứ vào đoạn ghi chép về cái chết của Thái Tông trong Quốc sử, hậu thế tuy có trách nhưng vẫn có thể tha thứ cho Ngô Sĩ Liên, thế nhưng đến khi chính ông lại hạ lời bình rất bất lương (chữ của HQH) về nữ sĩ Nguyễn Thị Lộ :Nữ sắc làm hại người quá lắm thay. Thị Lộ là một người đàn bà thôi, Thái Tôn yêu nó mà thân phải chết, Nguyễn Trãi lấy nó mà cả họ bị diệt, chẳng nên răn lắm ư? (ĐVSKTT, tập 3, trang 13, bản dịch), thì ta có thể kết luận, tư cách kẻ sĩ của viên sử quan này quá tầm thường. Hơn nữa, cũng chính vì thiếu chữ dũng của một vị Đô Ngự sử đài mà ông đã để lại vết nhơ trong lịch sử Đại Việt.
    Người viết tiểu thuyết lịch sử, nếu muốn thành công, cần làm sống lại được tinh thần lịch sử thời đại, nghĩa là phải chuyển tải được cái hồn thời đại ấy qua hệ thống nhân vật cho dù chỉ là hư cấu. Với Nguyễn Thị Lộ, phải nói, Hà Văn Thùy rất có ý thức về vấn đề này, nhưng đáng tiếc là, ông đã sai lầm ngay từ phương pháp luận khi quá lệ thuộc vào chính sử để hư cấu nên mối quan hệ bất thường giữa vị hoàng đế thứ hai nhà Lê với người thiếp yêu của một đại công thần, thi vị hóa cuộc dan díu này rồi đẩy nó vào quỹ đạo ái tình : Không cầm được lòng, nàng đăt lên trán chàng nụ hôn nhẹ như thoảng qua. Cái gì đã xảy ra? Nàng tự hỏi. Tội lỗi, tội lỗi, nàng thầm nhủ. Nhưng sao lạ quá, một cái gì đó mới mẻ chưa bao giờ nàng thấy. Nó dữ dội nó bạo liệt như xoáy lốc cuốn nàng bay vút lên tới tận trời xanh, toàn thân nàng đê mê như tan ra, nàng như muốn ngộp thở, nàng kiệt sức ngất đi … Tình yêu là như vậy sao? Nàng tự hỏi. Thật khác xa những gì nàng đã có với Nguyễn Trãi… (chương 4) Để thuyết phục người đọc bằng quan điểm duy quốc sử của mình, Hà Văn Thùy không ngại sử dụng hàng loạt sự kiện được diến giải thông qua các biện pháp nghệ thuật như hồi ức, trạng thái tâm lý, trích dẫn văn bản (kể cả tất yếu và ngẫu nhiên), nhằm ngăn chặn các ý kiến phản biện mà ngôn ngữ thông tục gọi là rào trước đón sau. Một trong những biện pháp khá hữu hiệu phục vụ đắc lực cho quan điểm sai lầm trên là những trang độc thoại của các nhân vật chính.
    Nội dung độc thoại trong diễn biến tâm lý các nhân vật, ở chừng mức nào đó, kể cả Lê Thái Tông, đều có xu hướng thanh minh cho cuộc tình không chính danh, được diễn đạt bằng thứ ngôn ngữ đầy ma lực, có sức mê hoặc ngay cả những người hoài nghi nhất: Chàng thấy tâm hồn trở nên thanh thản, tâm trí tỉnh táo. Sao lạ vậy, có lúc chàng tự hỏi. Hơn một người vợ. Người vợ chỉ biết tuân phục và nuông chiều. Hơn một người mẹ, từ mẫu chỉ biết thương yêu và răn dạy. Nàng như là người mẹ trong một người tình. Nàng biết khuyên can ta những điều sâu xa, nàng cũng nghiêm khắc như người mẹ với những điều ta chưa phải. Nhưng sau đó, bao giờ ta cũng được hưởng sự vuốt ve chiều chuộng cùng niềm vui ân ái … Chàng nhận ra, từ khi gặp nàng, chàng đã thành người khác, trầm tĩnh hơn chín chắn hơn (chương 4). Hồi ức của Nguyên Long qua giấc mơ thuở nhỏ được một cô tiên tắm cho rồi cậu bé sờ ti được lặp đi lặp lại như là một định mệnh, hay việc Nguyễn Thị Lộ, dùng tình yêu và tài sắc của mình cải hóa Thái Tông từ một ông vua lười nhác, ham mê tửu sắc thành đấng minh quân, luôn là tiêu chí định hướng thẩm mỹ tránh cho người đọc sự nhầm lẫn về mục đích tác phẩm.
    Nhưng sự việc chưa dừng ở đó. Nhằm hoàn thiện hình tượng Nguyễn Thị Lộ với ý đồ tôn vinh người phụ nữ tài sắc vẹn toàn, Hà Văn Thùy còn gán cho nhân vật này những công tích rất đáng ngờ. Điển hình là việc sửa lễ nhạc để thay thế loại lễ nhạc hổ lốn của nhóm hoạn quan Lương Đăng. Từ nội dung chương 4, người đọc tinh tế sẽ nhận ra ngay mục đích của tác giả trong trường đoạn Nguyễn Thị Lộ mời Thái Tông nghe nhạc. Là nhân vật có quyền uy nhất trong triều, từng nhiều lần lên giường với một giai nhân tài sắc bậc nhất kinh thành, thì việc gì mà nhà vua chẳng gật đầu. Tuy nhiên, đến đây cần phân định rạch ròi giới hạn không thể vượt qua đối với một nữ quan, bất kể người ấy là nhân tình của bậc quân vương. Theo quan niệm nam tôn nữ ty trong điển chế Khổng Mạnh, tại triều đình, làm lễ nhạc phải là nam nhân có danh vị cao trong Bộ Lễ và Viện Hàn lâm. Trường hợp thái giám Lương Đăng và Hạ Đăng Đắc được xem là các biệt chỉ xảy ra vào lúc triều cương rối nát. Việc để Nguyễn Thị Lộ chủ trì lễ nhạc, cho dù phía sau bà là Nguyễn Trãi, cũng không đủ sức thuyết phục.
    Đến đây tưởng cũng nên làm rõ một điều về chức danh nữ quan của Nguyễn Thị Lộ. Lễ nghi học sĩ là chức quan do Bộ Lễ quản lý. Với chức trách cung trung giáo tập, hàng ngày, Nguyễn Thị Lộ đi kiệu vào hậu cung dạy các phi tần, cung nữ, hết giờ lại lên kiệu về phủ đệ, không được ở lại hậu cung. Vậy mà Hà Văn Thùy lại bịa ra một cung Lễ nghi học sĩ, vô hình chung, ngay từ đầu tác giả đã biến bà thành một cung nữ, chịu sự quản giáo của Quý phi Dương Thị Bí và Thần phi Nguyễn Thị Anh. Chuyện này ngỡ như bình thường nhưng thực chất đó lại là chi tiết quan trọng. Loại bỏ chi tiết này ra khỏi tiểu thuyết, có nghĩa là loại bỏ một điểm hẹn rất hợp lý của đôi tình nhân trong hậu cung đầy bất trắc và lắm chuyện thị phi. Hai người khó có thể gặp nhau thường xuyên bởi tai mắt của bọn thái giám.
    Bây giờ chúng tôi xin nói đến điểm mấu chốt nhất của cuộc tình này mà nếu bị bác bỏ thì xem như cuốn tiểu thuyết của Hà Văn Thùy bị đổ. Ấy là tuổi tác Lê Thái Tông và vị nữ quan. Căn cứ vào các tư liệu lịch sử, năm sinh của Nguyễn Thị Lộ có sự chênh lệch nhau. Theo Đất và người Thái Bình, bà sinh vào năm 1400 tại làng Hải Triều (còn gọi là Hải Hồ) tục gọi làng Hới, tổng Thanh Triều, huyện Ngự Thiên, phủ Tân Hưng (nay thuộc xã Tân Lễ, huyện Hưng Hà). Nhưng theo giáo sư Võ Thu Tịnh trong Vụ án Lệ Chi Viên(http://vietsciences.free) và và tiến sĩ Đinh Công Vỹ trong Bên lề chính sử(NXB Văn hóa Thông tin) thì bà sinh vào năm 1390. Từ đó, nếu lấy mốc năm 1390, Nguyễn Thị Lộ hơn Lê Thái Tông 33 tuổi, còn lấy năm 1400 làm năm sinh như khá nhiều tác giả đã sử dụng, thì Nguyễn Thị Lộ cũng hơn nhà vua 23 tuổi. Cho dù là rất đẹp, thì người phụ nữ ở vào độ tứ tuần cách đây già nửa thiên niên kỷ cũng đã là một bà già, bởi hoàn cảnh kinh tế lạc hậu, chế độ chăm sóc sức khỏe cộng đồng vô cùng thấp kém. Đó chính là nguyên nhân dẫn đến tuổi thọ trung bình không quá 30. Trong khi ấy, theo Hà Văn Thùy, Lê Thái Tông là một ông vua ít học, ham mê sắc dục, hẳn không thể có một mối tình cuồng nhiệt với một bà già hơn cả tuổi mẹ mình. Mặt khác chúng ta cũng không thể quên, lúc ấy, nhà vua đã có đến 6 bà vợ, toàn những người đẹp chim sa cá lặn cùng hàng trăm cung tần mỹ nữ nơi hậu điện. Có lẽ khi viết, Hà Văn Thùy cũng lấn cấn về vấn đề này, nên ông đã dành khá nhiều trang phân tích diễn biến tâm lý và những màn độc thoại mùi mẫn để thuyết phục bạn đọc chấp nhận cuộc ngoại tình tưởng tượng. Lê Thái tông nghĩ : …Nhưng từ khi gặp Nguyễn Thị Lộ, Thái tông cảm thấy cuộc đời mình không như trước nữa. Quyền lực vô biên của chàng lần đầu tiên bị thách thức. “Uy quyền có thể làm được nhiều điều nhưng không làm nên tình yêu!” Nàng nói. Quả vậy, nàng là người đàn bà đầu tiên mà chàng phải bỏ công chinh phục. Cảm hóa nàng không dễ. Chàng không ép buộc bởi chàng cần một người tình, người yêu chứ không chỉ là một con mái tuân phục! Chàng muốn nàng tự nguyện hiến dâng. Chàng biết nàng có cảm tình với mình. Chàng cũng biết, trong cái cảm tình ấy mong manh tình yêu. Nhưng sống lâu năm với con người đạo đức, nàng đã nhiễm thói quen kìm nén. Nàng khép lòng lại như vị tướng giữ thành. Chính cái đêm nàng gẩy đàn trong nước mắt ấy, chàng đã nghe rõ lòng nàng và chàng hành động. Lúc đó hoặc mãi mãi không bao giờ! Lúc đầu, nàng chống cự. Nhưng chàng biết, đó là nàng chống cự lại bản thân. Chàng đã giúp cho nàng chiến thắng… (chương 4).
    Từ những dòng trên, người đọc có quyền nghi ngờ, liệu tác giả có bất nhẫn khi để cho Nguyễn Thị Lộ không bị cưỡng ép phải yêu mà tình nguyện yêu Lê Nguyên Long đắm đuối bất chấp cả đạo nhân luân? Đọc đến đoạn Lê Thái Tông và Nguyễn Thị Lộ làm tình cuồng nhiệt đến nỗi nhà vua đột tử trên bụng Lễ nghi học sĩ tại hành cung Lệ Chi Viên, người ta chợt nhận ra một điều, tất cả mọi cách bài binh bố trận trong kỹ xảo của tác giả là để dẫn đến kết cục bi hài này chứ không phải là án quyết tru di tam tộc gia đình Nguyễn Trãi của triều đình nhà Lê sau đó.
    Như trên đã nói, Hà văn Thùy lệ thuộc hoàn toàn vào chính sử. Cái nhìn của ông không vượt khỏi hệ ý thức thời đại. Ông chỉ nhìn thấy chữ trên giấy trắng mực đen mà không biết nhìn giữa hai dòng chữ như một nhân vật của Lỗ Tấn đã phát hiện ra người ăn thịt người trong truyện ngắn Cây Trường minh đăng. Từ cách dàn dựng, bố cục và khai triển tiểu thuyết như trên, chẳng cần đào sâu các tầng ý nghĩa mà chỉ cần căn cứ vào văn bản trực tiếp, chúng ta cũng có thể thấy được, Nguyễn Thị Lộ là tác phẩm làm biến dạng lịch sử, hạ nhục nhân cách Nguyễn Trãi, Nguyễn Thị Lộ, Lê Thái Tông, đồng thời đem đến cho người đọc một cái nhìn lệch lạc về tư tưởng thẩm mỹ. Nguyễn Thị Lộ xuất thân từ gia đình nền nếp, chắc chắn bà hiểu rất rõ đạo tam cương, ngũ thường. Là một phụ nữ thông minh, lại chịu ảnh hưởng sâu sắc của nền giáo dục nho học, dứt khoát người nữ quan làng Hới này không thể có hành vi thái quá vượt ra ngoài khuôn khổ tam tòng tứ đức. Lại nữa, Nguyễn Thị Lộ từng đề xuất nhà vua ban sắc dụ trừng phạt loại đàn bà lăng loàn thì không thể tự mình làm chuyện thương luân bại lý. Trong khi đó, Nguyễn Trãi là bậc anh hùng cái thế, từng giữ trọng trách nơi miếu đường, nhân cách sáng như sao khuê, làm sao có thể tình nguyện hiến vợ (mà lại là thiếp yêu) cho một ông vua chỉ bằng tuổi con mình, để rước về một cô Cẩm Nhung như là sự đổi chác ngầm của phường lục lâm thảo khấu? Hà Văn Thùy đã cố tình tạo ra một sự nhập nhằng khiến bạn đọc hiểu lầm. Thực ra, người thiếp của Nguyễn tiên sinh, sau này sinh ra Anh Vũ không phải là cung nữ do Lê Thái Tông ban.
    Kẻ sĩ quân tử như Nguyễn Trãi tuy chịu sự chi phối bởi đạo thần tử (quân xử thần tử, thần bất tử bất trung), nhưng danh dự dòng họ, thể diện gia đình mới là quan trọng. Người quân tử có thể chết chứ quyết không chịu nhục. Danh dự đã mất, thử hỏi sống trên đời còn có ý nghĩa gì? Cho nên cái đoạn Hà Văn Thùy miêu tả tâm trạng Ức Trai giằng xé như một trận bão lòng khi Nguyễn Thị Lộ theo xa giá về Côn Sơn, chỉ phù hợp với những kẻ tầm thường của loại tiểu thuyết diễm tình. Nguyễn Trãi cũng là một người đàn ông, hơn thế còn là nhà thơ lớn, ngón đòn mà Lê Nguyên Long đánh vào tâm hồn ông vô cùng hiểm độc. Nếu tác giả tự đặt mình vào hoàn cảnh Ức Trai, cẩn trọng suy nghĩ, chắc chắn ông sẽ không để cho người chồng bị cắm sừng nói những lời an ủi nhuốm màu cải lương thế kỷ XXI như sau : Khi chuyện xẩy ra, ta vô cùng đau khổ vì người yêu thương nhất đã phản bội ta. Ta trách nhà vua đã xúc phạm ta. Quả thực lúc đó ta thù hận nàng… Nhưng rồi, khi uống cạn nỗi đau, ta hiểu ra, nàng không phản bội ta mà nàng chỉ theo tiếng gọi của lòng nàng. Nàng yêu ta khi còn quá trẻ, những năm tháng bên ta, tình yêu của nàng đã khuôn theo tình cảm của ta. Nay khi gặp một người như Nguyên Long, những tình cảm từ lâu bị kìm nén trong lòng bừng tỉnh, thúc giục nàng tìm những cái mà nàng vì ta đã để mất. Ta hiểu việc nàng làm. Ta già rồi không thể cho nàng những cái nàng có quyền được hưởng. Lẽ nào ta lại cấm đoán niềm vui, cấm đoán hạnh phúc của nàng? Thiên hạ chê những ông vua ngày xưa khi chết bắt thê thiếp chết theo. Nhưng nếu cấm đoán nàng, thì ta có khác gì một bạo chúa bắt nàng chôn vùi tuổi trẻ… Chính vì vậy, ta từ lâu đã thông cảm với nàng…(chương 7).
    Về nhân cách Lê thái Tông, tuy là ông vua ít học, nhưng sau bao năm bị khống chế dưới bóng của đám cường thần, đến năm1440 đã trưởng thành, tự mình điều hành chính sự. Vị vua còn khá trẻ này đã thẳng tay trừng trị bọn Lê Sát, Lê Ngân, dám lục dụng các công thần bị thất sủng thời Thái Tổ, biết dựa vào các lương thần chỉnh đốn triều cương, không thể là một hôn quân cướp vợ người khác. Như phần trên chúng tôi đã phân tích, hậu cung của Nguyên Long thiếu gì giai nhân tài nữ đến nỗi phải đeo đuổi một người đàn bà hơn mình ít ra là 23 tuổi? Một vương triều vừa mới kiến lập sau mười năm chống giặc ngoại xâm mà đã có một ông vua nhân cách thấp hèn, tinh thần bệnh hoạn như thế làm sao có thể đứng đầu trăm họ? Sai lầm có tính hệ thống này, trước hết bắt nguồn từ các nhà chép sử thiếu trung thực, nhẫn tâm đổi trắng thay đen dưới áp lực của phe nhóm Nguyễn Thị Anh, gán tội cho Nguyễn Trãi, tạo một thiên cổ kỳ án, đến nỗi ngày nay, nhiều người coi đó là vụ án lương tâm muốn Tòa Thượng thẩm Việt Nam, nhân danh sự liên tục của một Nhà nước, xử lại.
    Đọc Hà Văn Thùy, phần phản cảm nhất là những đoạn Lê Thái Tông tìm mọi cách săn đón Nguyễn Thị Lộ. Nhưng đấy chưa phải là tất cả. Những pha làm tình nóng bỏng giữa hai người và diễn biến tâm trạng của họ mới địch thực là cú đòn hạ nhục vợ chồng Nguyễn Ức Trai :Rồi chàng vồ vập đòi yêu nữa. Nàng buông người vô cảm. Dù sao việc cũng đã rồi, hối cũng đã muộn, nàng nghĩ, và mặc cho chàng vày vò. Nhưng rồi sau đó những kìm nén mà nàng cố tình gìn giữ bị phá tung, không cưỡng nổi bản thân, nàng hưởng ứng cuồng nhiệt. Cơn khát thèm tích tụ bao ngày đã được thỏa mãn ở lần trước, lần này chàng trai trẻ từ tốn điệu đàng dẫn nàng vào cuộc vui, đưa nàng lên cực điểm khoái lạc(chương 4). Và đây chính là đỉnh điểm của cái gọi là tình yêu để rồi sẽ kết thúc với bản án đẫm máu: Không còn cách nào khác, nàng đành chiều và vận dụng hết ngón nghề giúp chàng. Vẫn biết khoái cảm nơi mình lên chậm, nàng tự kích thích để hòa hợp với chàng. Để chứng tỏ mình là trượng phu nam tử, chàng không ngừng mân mê những nơi nhạy cảm nhất của nàng. Rồi hai cơ thể hòa vào nhau trong tận cùng hoan lạc. Nàng cắn chặt môi như cố ghìm lại tiếng rên trong miệng nhưng rồi tiếng rên sung sướng cứ bật ra: “Chàng, Nguyên Long, chàng ơ ơ ơi!” Rồi nàng lịm đi mê mẩn. Tận cùng sung sướng, chàng run rẩy trên người nàng (chương 7).
    Từ những trích dẫn trên, nếu tham khảo thêm cả những đoạn diễn biến tâm trạng Nguyễn Thị Lộ nằm rải rác ở các cương 4, 5, 6 và phần đầu chương 7, chúng ta phải thừa nhận Hà Văn Thùy rất có sở trường trong việc xây dựng hình tượng nhân vật có tâm lý phức tạp. Ông hư cấu mà như ngỡ cứ như thật tạo nên sự khác lạ về đẳng cấp với những nhân vật được xây dựng theo khuôn mẫu cứng nhắc của khá nhiều tiểu thuyết lịch sử chịu ảnh hưởng của mỹ học giáo điều. Thế nhưng, như phần đầu chúng tôi đã cảnh báo, do phương pháp tiếp cận Vụ án Lệ Chi Viên sai lầm nên tiểu thuyết Nguyễn Thị Lộ đi chệch khỏi quỹ đạo thẩm mỹ. Ý đồ tác giả có thể là lương thiện, nhưng thay vì đề cao nhân cách Nguyễn Thị Lộ thì ông lại hạ thấp phẩm giá của bà.
    Tất nhiên, quyền hư cấu trong sáng tạo nghệ thuật là của tác giả, tuy vậy người viết cần phải có bản lĩnh và một tâm hồn nhạy cảm để nhìn ra bản chất vấn đề trong cái mớ bòng bong của lịch sử để lại. Nguyễn Thị Lộ thực chất không phải như hình tượng văn học hư cấu của Hà Văn Thùy. Bà là một giai nhân, một tài nữ, nhưng dứt khoát không phải là một dâm phụ.
    Minh họa lịch sử thì dễ, nhưng tái hiện và làm sinh động một giai đoạn lịch sử bằng hình tượng văn học qua cái nhìn minh triết của người cầm bút thì không phải ai cũng làm được. Thay cho lời kết, chúng tôi xin dẫn ra đây nhận xét trứ danh của văn hào Gabriel García Márquez trong tác phẩm Mùa thu của ngài trưởng lão về lịch sử: Những gì là dối trá hôm nay sẽ là hiện thực của ngày mai.

    Chí Linh, xuân Nhân Thìn, ngày lành

    ĐVS

  • Trần Vân Hạc

    Đây là bài của Đặng Văn Sinh trên trannhuong.com:
    “NGUYỄN THỊ LỘ” MỘT CUỐN TIỂU THUYẾT HƯ CẤU HẠ THẤP PHẨM GIÁ NGUYỄN TRÃI, NGUYỄN THỊ LỘ
    Đặng Văn Sinh

    Từ đầu thế kỷ XX đến nay, Vụ án Lệ Chi Viên đã được một số tác giả đề cập đến dưới dạng biên khảo, truyện và thơ. Chúng tôi có nhận xét chung là, cho dù xuất hiện dưới hình thức nào, cuối cùng, phần lớn tác phẩm đều quy chiếu về một điểm, đây là một vụ án oan dẫn đến họa tru di đại gia đình Nguyễn Trãi mà nhân vật chính được coi là người gây ra cái chết của mấy chục nạn nhân là Nguyễn Thị Lộ. Chuyện này không lạ, bởi nó đã được Ngô Sĩ Liên (hoặc một sử gia nào đó sau Ngô Sĩ Liên, theo quan điểm của Phan Huy Lê) chép trong Đại Việt sử ký toàn thư. Vì thế, không ít người lấy Quốc sử thời Lê sơ làm cơ sở, một mặt đề cao nhân cách Nguyễn Trãi, mặt khác lại phỉ báng Nguyễn Thị Lộ, thậm chí còn bịa ra cả huyền thoại rắn báo oán để gán tội cho một người phụ nữ tài hoa, từng đảm nhiệm chức Lễ nghi học sĩ trong triều Lê Thái Tông.
    Ngô Sĩ Liên đã làm một việc khá hồ đồ là đóng đinh vụ kỳ án vào lịch sử, không cho Nguyễn Thị Lộ được thanh minh, nhưng hậu thế chiêu tuyết cho bà. Những năm gần đây đã có những công trình nghiên cứu nghiêm túc về thân thế sự nghiệp Nguyễn Thị Lộ, trong đó có cả một cuội hội thảo tầm cỡ quốc gia đã phát hiện được nhiều tư liệu giá trị về vị nữ học sĩ tài danh đã một thời làm nghề bán chiếu gon ở kinh thành Thăng Long. Những bí mật vụ án Vườn vải Gia Định từng bước được khai mở, và người ta dần dần hiểu được, những kẻ nào đã thao túng triều cương, đạo diễn vở bi kịch chính trị đẫm máu nửa đầu thế kỷ XV.
    Tác phẩm viết về vị Lễ nghi học sĩ tài danh gần đây nhất là tiểu thuyết Nguyễn Thị Lộ của nhà văn Hà Văn Thùy do NXB Văn học ấn hành vào năm 2005. Xét về mặt hình thức, Nguyễn Thị Lộ là một tiểu thuyết lịch sử gần đúng nghĩa, bởi tác giả ít nhiều đã tạo được không khí lịch sử thời Lê sơ qua cách xử lý không gian, ngôn ngữ và những nét đặc trưng tâm lý nhân vật. Nói cách khác, với bút pháp riêng của mình, Hà Văn Thùy đã làm sống lại một giai đoạn lịch sử, tạo nên văn bản nghệ thuật có tính gợi mở, mặt khác, ông góp phần làm sáng tỏ những điểm còn mù mờ trong nội bộ triều Lê, cung cấp cho người đọc một cái nhìn mới về Vụ án Lệ Chi Viên.
    Về mặt kết cấu, tác phẩm chia làm 8 chương, ở phần cuối còn có một Vĩ thanh (phần này không có trong văn bản do NXB Văn học ấn hành), mỗi chương đều gài một vài chi tiết quan trọng dẫn người đọc đi dần đến vụ thảm án bằng thứ ngôn ngữ giàu chất thơ, đậm hình ảnh, đặc biệt hấp dẫn với những bạn đọc… không khó tính.
    Đọc Nguyễn Thị Lộ, chúng ta dễ bị thuyết phục, đôi khi còn như bị thôi miên bởi không ít những lý lẽ Hà Văn Thùy đưa ra biện minh cho cuộc tình vụng trộm giữa Lê Thái Tông với bà Lễ nghi học sĩ. Một khi đã bị tác giả lừa vào mê cung tình ái bằng những trường đoạn phân tích diễn biến tâm lý ngọt ngào, mùi mẫn, bạn đọc sẽ dễ dàng mất cảnh giác, buông lỏng lý trí, sẵn sàng đồng hành với tác giả trong cuộc phiêu lưu vô tiền khoáng hậu. Tuy nhiên không thể trách tác giả về mặt diễn biến cốt truyện, bởi có vẻ như ông đã tôn trọng sự thật lịch sử, tuy đó là thứ lịch sử không mấy tin cậy được viết dưới áp lực của một nhóm quyền thần sau khi đã thanh toán vợ chồng Nguyễn Trãi, đang ở thế thượng phong, có thể nhổ toẹt cả vào Quốc sử.
    Nhưng chính vì quá lệ thuộc vào lịch sử, quá tin vào sự trung thực của các sử quan, Hà Văn Thùy đã vô tình rơi vào cái bẫy của đám lộng thần. Chính vì thế, cuốn tiểu thuyết tuy có nhiều chương ca ngợi Nguyễn Trãi và Nguyễn Thị Lộ, nhưng xét về mặt tổng quát, tác giả lại hạ nhục họ bằng cách biện hộ cho cho cuộc dan díu vô luân của Lê Thái Tông với bà Lễ nghi học sĩ.
    Căn cứ trên văn bản, Đại Việt sử ký toàn thư chép sự kiện Lệ Chi Viên khá mập mờ, có những điểm rất đáng nghi, nhưng việc kết tội Nguyễn Thị Lộ là chắc chắn :Trước đây vua thích vợ của Thừa chỉ Nguyễn Trãi là Nguyễn Thị Lộ người rất đẹp, văn chương rất hay, gọi vào cung phong làm Lễ nghi học sĩ, ngày đêm hầu cận bên cạnh. Đến khi đi tuần miền Đông, xa giá về tới vườn vải, xã Đại Lại ven sông Thiên Đức, vua thức suốt đêm với Nguyễn Thị Lộ rồi băng, các quan bí mật đưa về. Ngày mồng 6 về tới kinh, nửa đêm đem vào cung rồi mới phát tang. Mọi người đều nói là Nguyễn Thị Lộ giết vua”( Đại Việt Sử Ký toàn thư, bản kỉ thực lục, quyển XI ). Vậy mà Hà Văn Thùy để cho Lê Thánh Tông khen Ngô Sĩ Liên :Giỏi, giỏi! (…) Đáng mặt sử gia! Khanh đã viết đúng như sự việc xảy ra… (Chương 8).
    Trong cuộc Hội thảo khoa học về Lễ nghi học sĩ Nguyễn Thị Lộ do đảng ủy xã Trần Phú, Khuyến Lương, Hà Nội phối hợp với Hội Sử học Việt Nam tổ chức ngày 19 tháng12 năm 2002, sau đó ra đời tập Kỷ yếu nhan đề Lễ nghi Học sĩ Nguyễn Thị Lộ với thảm án Lệ Chi viên, có khá nhiều bản tham luận nghi ngờ tính trung thực của sử gia Ngô Sĩ Liên, mà một trong những người phản biện mạnh mẽ nhất là nhà văn Hoàng Quốc Hải với bài Trắng án Nguyễn Thị Lộ. Trong đó, ông dẫn ra đoạn Lê Thánh Tông trách mắng thậm tệ Ngô Sĩ Liên :Vua dụ bảo Đô Ngự sử đài là Ngô Sĩ Liên và Nghiên Nhân Thọ rằng:Ta mới coi nhân sự, sửa đổi đức tính, tuân theo điển cũ của thánh tổ thần tôn nên mới đầu xuân tế Giao, ngươi lại bảo tổ tông đặt ra tế Giao cũng không đáng theo. Ngươi bảo nước ta là hàng phiên bang đời xưa, thế là ngươi theo đạo chết, mang lòng không vua. Vả lại, Khi Lệ Đức hầu (Nghi Dân) cướp ngôi, Sĩ Liên không giữ chức Ngự sử đấy sao? Chức nhiệm cao lắm. Nay Lệ Đức hầu bị tay ta mà mất nước, ngươi không biết vì lợi lộc mà chết theo, lại đi thờ ta. Nếu ta không nói ra, trong lòng ngươi không tự xấu hổ mà chết ư? (Đại Việt sử ký toàn thư, tập 3, trang 180, bản dịch), rồi kết luận :Tư cách của sử quan và Đài Ngự sử như thế thì chúng ta có quyền tin tưởng sâu sắc rằng, những điều họ chép ghi trong Vụ án Vườn Lệ Chi là dối trá. Điều này được chứng minh trong lời văn Đại xá của Lê Nghi Dân sau khi đã giết Bang Cơ. Trong đó Nghi Dân khẳng định :… Diên Ninh tự biết mình không phải là con của Tiên đế… (Đại Việt thông sử, trang 226, bản dịch).
    Nếu chỉ căn cứ vào đoạn ghi chép về cái chết của Thái Tông trong Quốc sử, hậu thế tuy có trách nhưng vẫn có thể tha thứ cho Ngô Sĩ Liên, thế nhưng đến khi chính ông lại hạ lời bình rất bất lương (chữ của HQH) về nữ sĩ Nguyễn Thị Lộ :Nữ sắc làm hại người quá lắm thay. Thị Lộ là một người đàn bà thôi, Thái Tôn yêu nó mà thân phải chết, Nguyễn Trãi lấy nó mà cả họ bị diệt, chẳng nên răn lắm ư? (ĐVSKTT, tập 3, trang 13, bản dịch), thì ta có thể kết luận, tư cách kẻ sĩ của viên sử quan này quá tầm thường. Hơn nữa, cũng chính vì thiếu chữ dũng của một vị Đô Ngự sử đài mà ông đã để lại vết nhơ trong lịch sử Đại Việt.
    Người viết tiểu thuyết lịch sử, nếu muốn thành công, cần làm sống lại được tinh thần lịch sử thời đại, nghĩa là phải chuyển tải được cái hồn thời đại ấy qua hệ thống nhân vật cho dù chỉ là hư cấu. Với Nguyễn Thị Lộ, phải nói, Hà Văn Thùy rất có ý thức về vấn đề này, nhưng đáng tiếc là, ông đã sai lầm ngay từ phương pháp luận khi quá lệ thuộc vào chính sử để hư cấu nên mối quan hệ bất thường giữa vị hoàng đế thứ hai nhà Lê với người thiếp yêu của một đại công thần, thi vị hóa cuộc dan díu này rồi đẩy nó vào quỹ đạo ái tình : Không cầm được lòng, nàng đăt lên trán chàng nụ hôn nhẹ như thoảng qua. Cái gì đã xảy ra? Nàng tự hỏi. Tội lỗi, tội lỗi, nàng thầm nhủ. Nhưng sao lạ quá, một cái gì đó mới mẻ chưa bao giờ nàng thấy. Nó dữ dội nó bạo liệt như xoáy lốc cuốn nàng bay vút lên tới tận trời xanh, toàn thân nàng đê mê như tan ra, nàng như muốn ngộp thở, nàng kiệt sức ngất đi … Tình yêu là như vậy sao? Nàng tự hỏi. Thật khác xa những gì nàng đã có với Nguyễn Trãi… (chương 4) Để thuyết phục người đọc bằng quan điểm duy quốc sử của mình, Hà Văn Thùy không ngại sử dụng hàng loạt sự kiện được diến giải thông qua các biện pháp nghệ thuật như hồi ức, trạng thái tâm lý, trích dẫn văn bản (kể cả tất yếu và ngẫu nhiên), nhằm ngăn chặn các ý kiến phản biện mà ngôn ngữ thông tục gọi là rào trước đón sau. Một trong những biện pháp khá hữu hiệu phục vụ đắc lực cho quan điểm sai lầm trên là những trang độc thoại của các nhân vật chính.
    Nội dung độc thoại trong diễn biến tâm lý các nhân vật, ở chừng mức nào đó, kể cả Lê Thái Tông, đều có xu hướng thanh minh cho cuộc tình không chính danh, được diễn đạt bằng thứ ngôn ngữ đầy ma lực, có sức mê hoặc ngay cả những người hoài nghi nhất: Chàng thấy tâm hồn trở nên thanh thản, tâm trí tỉnh táo. Sao lạ vậy, có lúc chàng tự hỏi. Hơn một người vợ. Người vợ chỉ biết tuân phục và nuông chiều. Hơn một người mẹ, từ mẫu chỉ biết thương yêu và răn dạy. Nàng như là người mẹ trong một người tình. Nàng biết khuyên can ta những điều sâu xa, nàng cũng nghiêm khắc như người mẹ với những điều ta chưa phải. Nhưng sau đó, bao giờ ta cũng được hưởng sự vuốt ve chiều chuộng cùng niềm vui ân ái … Chàng nhận ra, từ khi gặp nàng, chàng đã thành người khác, trầm tĩnh hơn chín chắn hơn (chương 4). Hồi ức của Nguyên Long qua giấc mơ thuở nhỏ được một cô tiên tắm cho rồi cậu bé sờ ti được lặp đi lặp lại như là một định mệnh, hay việc Nguyễn Thị Lộ, dùng tình yêu và tài sắc của mình cải hóa Thái Tông từ một ông vua lười nhác, ham mê tửu sắc thành đấng minh quân, luôn là tiêu chí định hướng thẩm mỹ tránh cho người đọc sự nhầm lẫn về mục đích tác phẩm.
    Nhưng sự việc chưa dừng ở đó. Nhằm hoàn thiện hình tượng Nguyễn Thị Lộ với ý đồ tôn vinh người phụ nữ tài sắc vẹn toàn, Hà Văn Thùy còn gán cho nhân vật này những công tích rất đáng ngờ. Điển hình là việc sửa lễ nhạc để thay thế loại lễ nhạc hổ lốn của nhóm hoạn quan Lương Đăng. Từ nội dung chương 4, người đọc tinh tế sẽ nhận ra ngay mục đích của tác giả trong trường đoạn Nguyễn Thị Lộ mời Thái Tông nghe nhạc. Là nhân vật có quyền uy nhất trong triều, từng nhiều lần lên giường với một giai nhân tài sắc bậc nhất kinh thành, thì việc gì mà nhà vua chẳng gật đầu. Tuy nhiên, đến đây cần phân định rạch ròi giới hạn không thể vượt qua đối với một nữ quan, bất kể người ấy là nhân tình của bậc quân vương. Theo quan niệm nam tôn nữ ty trong điển chế Khổng Mạnh, tại triều đình, làm lễ nhạc phải là nam nhân có danh vị cao trong Bộ Lễ và Viện Hàn lâm. Trường hợp thái giám Lương Đăng và Hạ Đăng Đắc được xem là các biệt chỉ xảy ra vào lúc triều cương rối nát. Việc để Nguyễn Thị Lộ chủ trì lễ nhạc, cho dù phía sau bà là Nguyễn Trãi, cũng không đủ sức thuyết phục.
    Đến đây tưởng cũng nên làm rõ một điều về chức danh nữ quan của Nguyễn Thị Lộ. Lễ nghi học sĩ là chức quan do Bộ Lễ quản lý. Với chức trách cung trung giáo tập, hàng ngày, Nguyễn Thị Lộ đi kiệu vào hậu cung dạy các phi tần, cung nữ, hết giờ lại lên kiệu về phủ đệ, không được ở lại hậu cung. Vậy mà Hà Văn Thùy lại bịa ra một cung Lễ nghi học sĩ, vô hình chung, ngay từ đầu tác giả đã biến bà thành một cung nữ, chịu sự quản giáo của Quý phi Dương Thị Bí và Thần phi Nguyễn Thị Anh. Chuyện này ngỡ như bình thường nhưng thực chất đó lại là chi tiết quan trọng. Loại bỏ chi tiết này ra khỏi tiểu thuyết, có nghĩa là loại bỏ một điểm hẹn rất hợp lý của đôi tình nhân trong hậu cung đầy bất trắc và lắm chuyện thị phi. Hai người khó có thể gặp nhau thường xuyên bởi tai mắt của bọn thái giám.
    Bây giờ chúng tôi xin nói đến điểm mấu chốt nhất của cuộc tình này mà nếu bị bác bỏ thì xem như cuốn tiểu thuyết của Hà Văn Thùy bị đổ. Ấy là tuổi tác Lê Thái Tông và vị nữ quan. Căn cứ vào các tư liệu lịch sử, năm sinh của Nguyễn Thị Lộ có sự chênh lệch nhau. Theo Đất và người Thái Bình, bà sinh vào năm 1400 tại làng Hải Triều (còn gọi là Hải Hồ) tục gọi làng Hới, tổng Thanh Triều, huyện Ngự Thiên, phủ Tân Hưng (nay thuộc xã Tân Lễ, huyện Hưng Hà). Nhưng theo giáo sư Võ Thu Tịnh trong Vụ án Lệ Chi Viên(http://vietsciences.free) và và tiến sĩ Đinh Công Vỹ trong Bên lề chính sử(NXB Văn hóa Thông tin) thì bà sinh vào năm 1390. Từ đó, nếu lấy mốc năm 1390, Nguyễn Thị Lộ hơn Lê Thái Tông 33 tuổi, còn lấy năm 1400 làm năm sinh như khá nhiều tác giả đã sử dụng, thì Nguyễn Thị Lộ cũng hơn nhà vua 23 tuổi. Cho dù là rất đẹp, thì người phụ nữ ở vào độ tứ tuần cách đây già nửa thiên niên kỷ cũng đã là một bà già, bởi hoàn cảnh kinh tế lạc hậu, chế độ chăm sóc sức khỏe cộng đồng vô cùng thấp kém. Đó chính là nguyên nhân dẫn đến tuổi thọ trung bình không quá 30. Trong khi ấy, theo Hà Văn Thùy, Lê Thái Tông là một ông vua ít học, ham mê sắc dục, hẳn không thể có một mối tình cuồng nhiệt với một bà già hơn cả tuổi mẹ mình. Mặt khác chúng ta cũng không thể quên, lúc ấy, nhà vua đã có đến 6 bà vợ, toàn những người đẹp chim sa cá lặn cùng hàng trăm cung tần mỹ nữ nơi hậu điện. Có lẽ khi viết, Hà Văn Thùy cũng lấn cấn về vấn đề này, nên ông đã dành khá nhiều trang phân tích diễn biến tâm lý và những màn độc thoại mùi mẫn để thuyết phục bạn đọc chấp nhận cuộc ngoại tình tưởng tượng. Lê Thái tông nghĩ : …Nhưng từ khi gặp Nguyễn Thị Lộ, Thái tông cảm thấy cuộc đời mình không như trước nữa. Quyền lực vô biên của chàng lần đầu tiên bị thách thức. “Uy quyền có thể làm được nhiều điều nhưng không làm nên tình yêu!” Nàng nói. Quả vậy, nàng là người đàn bà đầu tiên mà chàng phải bỏ công chinh phục. Cảm hóa nàng không dễ. Chàng không ép buộc bởi chàng cần một người tình, người yêu chứ không chỉ là một con mái tuân phục! Chàng muốn nàng tự nguyện hiến dâng. Chàng biết nàng có cảm tình với mình. Chàng cũng biết, trong cái cảm tình ấy mong manh tình yêu. Nhưng sống lâu năm với con người đạo đức, nàng đã nhiễm thói quen kìm nén. Nàng khép lòng lại như vị tướng giữ thành. Chính cái đêm nàng gẩy đàn trong nước mắt ấy, chàng đã nghe rõ lòng nàng và chàng hành động. Lúc đó hoặc mãi mãi không bao giờ! Lúc đầu, nàng chống cự. Nhưng chàng biết, đó là nàng chống cự lại bản thân. Chàng đã giúp cho nàng chiến thắng… (chương 4).
    Từ những dòng trên, người đọc có quyền nghi ngờ, liệu tác giả có bất nhẫn khi để cho Nguyễn Thị Lộ không bị cưỡng ép phải yêu mà tình nguyện yêu Lê Nguyên Long đắm đuối bất chấp cả đạo nhân luân? Đọc đến đoạn Lê Thái Tông và Nguyễn Thị Lộ làm tình cuồng nhiệt đến nỗi nhà vua đột tử trên bụng Lễ nghi học sĩ tại hành cung Lệ Chi Viên, người ta chợt nhận ra một điều, tất cả mọi cách bài binh bố trận trong kỹ xảo của tác giả là để dẫn đến kết cục bi hài này chứ không phải là án quyết tru di tam tộc gia đình Nguyễn Trãi của triều đình nhà Lê sau đó.
    Như trên đã nói, Hà văn Thùy lệ thuộc hoàn toàn vào chính sử. Cái nhìn của ông không vượt khỏi hệ ý thức thời đại. Ông chỉ nhìn thấy chữ trên giấy trắng mực đen mà không biết nhìn giữa hai dòng chữ như một nhân vật của Lỗ Tấn đã phát hiện ra người ăn thịt người trong truyện ngắn Cây Trường minh đăng. Từ cách dàn dựng, bố cục và khai triển tiểu thuyết như trên, chẳng cần đào sâu các tầng ý nghĩa mà chỉ cần căn cứ vào văn bản trực tiếp, chúng ta cũng có thể thấy được, Nguyễn Thị Lộ là tác phẩm làm biến dạng lịch sử, hạ nhục nhân cách Nguyễn Trãi, Nguyễn Thị Lộ, Lê Thái Tông, đồng thời đem đến cho người đọc một cái nhìn lệch lạc về tư tưởng thẩm mỹ. Nguyễn Thị Lộ xuất thân từ gia đình nền nếp, chắc chắn bà hiểu rất rõ đạo tam cương, ngũ thường. Là một phụ nữ thông minh, lại chịu ảnh hưởng sâu sắc của nền giáo dục nho học, dứt khoát người nữ quan làng Hới này không thể có hành vi thái quá vượt ra ngoài khuôn khổ tam tòng tứ đức. Lại nữa, Nguyễn Thị Lộ từng đề xuất nhà vua ban sắc dụ trừng phạt loại đàn bà lăng loàn thì không thể tự mình làm chuyện thương luân bại lý. Trong khi đó, Nguyễn Trãi là bậc anh hùng cái thế, từng giữ trọng trách nơi miếu đường, nhân cách sáng như sao khuê, làm sao có thể tình nguyện hiến vợ (mà lại là thiếp yêu) cho một ông vua chỉ bằng tuổi con mình, để rước về một cô Cẩm Nhung như là sự đổi chác ngầm của phường lục lâm thảo khấu? Hà Văn Thùy đã cố tình tạo ra một sự nhập nhằng khiến bạn đọc hiểu lầm. Thực ra, người thiếp của Nguyễn tiên sinh, sau này sinh ra Anh Vũ không phải là cung nữ do Lê Thái Tông ban.
    Kẻ sĩ quân tử như Nguyễn Trãi tuy chịu sự chi phối bởi đạo thần tử (quân xử thần tử, thần bất tử bất trung), nhưng danh dự dòng họ, thể diện gia đình mới là quan trọng. Người quân tử có thể chết chứ quyết không chịu nhục. Danh dự đã mất, thử hỏi sống trên đời còn có ý nghĩa gì? Cho nên cái đoạn Hà Văn Thùy miêu tả tâm trạng Ức Trai giằng xé như một trận bão lòng khi Nguyễn Thị Lộ theo xa giá về Côn Sơn, chỉ phù hợp với những kẻ tầm thường của loại tiểu thuyết diễm tình. Nguyễn Trãi cũng là một người đàn ông, hơn thế còn là nhà thơ lớn, ngón đòn mà Lê Nguyên Long đánh vào tâm hồn ông vô cùng hiểm độc. Nếu tác giả tự đặt mình vào hoàn cảnh Ức Trai, cẩn trọng suy nghĩ, chắc chắn ông sẽ không để cho người chồng bị cắm sừng nói những lời an ủi nhuốm màu cải lương thế kỷ XXI như sau : Khi chuyện xẩy ra, ta vô cùng đau khổ vì người yêu thương nhất đã phản bội ta. Ta trách nhà vua đã xúc phạm ta. Quả thực lúc đó ta thù hận nàng… Nhưng rồi, khi uống cạn nỗi đau, ta hiểu ra, nàng không phản bội ta mà nàng chỉ theo tiếng gọi của lòng nàng. Nàng yêu ta khi còn quá trẻ, những năm tháng bên ta, tình yêu của nàng đã khuôn theo tình cảm của ta. Nay khi gặp một người như Nguyên Long, những tình cảm từ lâu bị kìm nén trong lòng bừng tỉnh, thúc giục nàng tìm những cái mà nàng vì ta đã để mất. Ta hiểu việc nàng làm. Ta già rồi không thể cho nàng những cái nàng có quyền được hưởng. Lẽ nào ta lại cấm đoán niềm vui, cấm đoán hạnh phúc của nàng? Thiên hạ chê những ông vua ngày xưa khi chết bắt thê thiếp chết theo. Nhưng nếu cấm đoán nàng, thì ta có khác gì một bạo chúa bắt nàng chôn vùi tuổi trẻ… Chính vì vậy, ta từ lâu đã thông cảm với nàng…(chương 7).
    Về nhân cách Lê thái Tông, tuy là ông vua ít học, nhưng sau bao năm bị khống chế dưới bóng của đám cường thần, đến năm1440 đã trưởng thành, tự mình điều hành chính sự. Vị vua còn khá trẻ này đã thẳng tay trừng trị bọn Lê Sát, Lê Ngân, dám lục dụng các công thần bị thất sủng thời Thái Tổ, biết dựa vào các lương thần chỉnh đốn triều cương, không thể là một hôn quân cướp vợ người khác. Như phần trên chúng tôi đã phân tích, hậu cung của Nguyên Long thiếu gì giai nhân tài nữ đến nỗi phải đeo đuổi một người đàn bà hơn mình ít ra là 23 tuổi? Một vương triều vừa mới kiến lập sau mười năm chống giặc ngoại xâm mà đã có một ông vua nhân cách thấp hèn, tinh thần bệnh hoạn như thế làm sao có thể đứng đầu trăm họ? Sai lầm có tính hệ thống này, trước hết bắt nguồn từ các nhà chép sử thiếu trung thực, nhẫn tâm đổi trắng thay đen dưới áp lực của phe nhóm Nguyễn Thị Anh, gán tội cho Nguyễn Trãi, tạo một thiên cổ kỳ án, đến nỗi ngày nay, nhiều người coi đó là vụ án lương tâm muốn Tòa Thượng thẩm Việt Nam, nhân danh sự liên tục của một Nhà nước, xử lại.
    Đọc Hà Văn Thùy, phần phản cảm nhất là những đoạn Lê Thái Tông tìm mọi cách săn đón Nguyễn Thị Lộ. Nhưng đấy chưa phải là tất cả. Những pha làm tình nóng bỏng giữa hai người và diễn biến tâm trạng của họ mới địch thực là cú đòn hạ nhục vợ chồng Nguyễn Ức Trai :Rồi chàng vồ vập đòi yêu nữa. Nàng buông người vô cảm. Dù sao việc cũng đã rồi, hối cũng đã muộn, nàng nghĩ, và mặc cho chàng vày vò. Nhưng rồi sau đó những kìm nén mà nàng cố tình gìn giữ bị phá tung, không cưỡng nổi bản thân, nàng hưởng ứng cuồng nhiệt. Cơn khát thèm tích tụ bao ngày đã được thỏa mãn ở lần trước, lần này chàng trai trẻ từ tốn điệu đàng dẫn nàng vào cuộc vui, đưa nàng lên cực điểm khoái lạc(chương 4). Và đây chính là đỉnh điểm của cái gọi là tình yêu để rồi sẽ kết thúc với bản án đẫm máu: Không còn cách nào khác, nàng đành chiều và vận dụng hết ngón nghề giúp chàng. Vẫn biết khoái cảm nơi mình lên chậm, nàng tự kích thích để hòa hợp với chàng. Để chứng tỏ mình là trượng phu nam tử, chàng không ngừng mân mê những nơi nhạy cảm nhất của nàng. Rồi hai cơ thể hòa vào nhau trong tận cùng hoan lạc. Nàng cắn chặt môi như cố ghìm lại tiếng rên trong miệng nhưng rồi tiếng rên sung sướng cứ bật ra: “Chàng, Nguyên Long, chàng ơ ơ ơi!” Rồi nàng lịm đi mê mẩn. Tận cùng sung sướng, chàng run rẩy trên người nàng (chương 7).
    Từ những trích dẫn trên, nếu tham khảo thêm cả những đoạn diễn biến tâm trạng Nguyễn Thị Lộ nằm rải rác ở các cương 4, 5, 6 và phần đầu chương 7, chúng ta phải thừa nhận Hà Văn Thùy rất có sở trường trong việc xây dựng hình tượng nhân vật có tâm lý phức tạp. Ông hư cấu mà như ngỡ cứ như thật tạo nên sự khác lạ về đẳng cấp với những nhân vật được xây dựng theo khuôn mẫu cứng nhắc của khá nhiều tiểu thuyết lịch sử chịu ảnh hưởng của mỹ học giáo điều. Thế nhưng, như phần đầu chúng tôi đã cảnh báo, do phương pháp tiếp cận Vụ án Lệ Chi Viên sai lầm nên tiểu thuyết Nguyễn Thị Lộ đi chệch khỏi quỹ đạo thẩm mỹ. Ý đồ tác giả có thể là lương thiện, nhưng thay vì đề cao nhân cách Nguyễn Thị Lộ thì ông lại hạ thấp phẩm giá của bà.
    Tất nhiên, quyền hư cấu trong sáng tạo nghệ thuật là của tác giả, tuy vậy người viết cần phải có bản lĩnh và một tâm hồn nhạy cảm để nhìn ra bản chất vấn đề trong cái mớ bòng bong của lịch sử để lại. Nguyễn Thị Lộ thực chất không phải như hình tượng văn học hư cấu của Hà Văn Thùy. Bà là một giai nhân, một tài nữ, nhưng dứt khoát không phải là một dâm phụ.
    Minh họa lịch sử thì dễ, nhưng tái hiện và làm sinh động một giai đoạn lịch sử bằng hình tượng văn học qua cái nhìn minh triết của người cầm bút thì không phải ai cũng làm được. Thay cho lời kết, chúng tôi xin dẫn ra đây nhận xét trứ danh của văn hào Gabriel García Márquez trong tác phẩm Mùa thu của ngài trưởng lão về lịch sử: Những gì là dối trá hôm nay sẽ là hiện thực của ngày mai.

    Chí Linh, xuân Nhân Thìn, ngày lành

    ĐVS

Leave a Comment

© 2011 Powered By LenStudio.Net

Scroll to top