You Are Here: Home » Sự kiện, nhân vật, bình luận » Một số phận kỳ lạ (Phần cuối)

Một số phận kỳ lạ (Phần cuối)

Truyện lịch sử của Nguyễn Anh Tuấn

Đêm tối như bưng.
Trời đã sang xuân từ lâu, nhưng đêm đến miền Tây Bắc còn rất lạnh. Trong gian tù hình lăng tam giác có bốn người ngồi xổm bó gối trên sàn xi-măng được rải một manh chiếu – nơi Tô Hiệu đang nằm. Lại một đêm nữa, những người tù số vuông đến bên nâng giấc cho Tô Hiệu. Không biết anh có qua khỏi đêm nay? Giá có thể đem được sự sống bản thân đổi lấy tính mệnh của Tô Hiệu đang bị cướp đi từng phút, từng giờ! Họ nhìn mãi vào trong đêm tối, như muốn xóa tan cái bóng đen đang đè nặng lên hơi thở nhọc nhằn của bạn tù.
Tô Hiệu từ từ mở mắt. Anh hơi ngóc cổ lên:
- Ờ, ờ các anh… sao đến đông thế này? Không nể cái thằng Kốc trong ngực tôi đang hành quân ra từng binh đoàn à?… Tôi đã chết đâu mà như đưa đám cả lượt thế… Buộc tôi phải tuân theo nghị quyết chi bộ… mà chính các anh lại vi phạm nghị quyết thế là không được đâu nhé! Bất công!
- Không ai nỡ bất công với cậu đâu, Tô ạ. Chúng mình đang cùng nhau đạp đổ mọi áp bức bất công kia mà!
Tô Hiệu cố gắng vượt ngồi dậy gạt mấy cánh tay định đỡ anh.
- Để tôi tự ngồi lấy xem nào… Nói thật với các anh, tôi biết là tôi không còn sống được bao lâu nữa. Chỉ ngày một ngày hai… Các anh chịu khó trông nom cây đào nhé!
- Bậy nào, Tô, đừng có nghĩ linh tinh!
- Cậu có định chết thì cố gắng đợi đến ngày mùng Tám tháng Ba hãy chết nhé, để chị em còn tưởng nhớ đến cậu.
Tô Hiệu lắc đầu:
- Không, tôi tính từng ngày như thế để phân phối thời gian cho bản kinh nghiệm dân vận ở vùng dân tộc ít người…Viết gần xong rồi, nó lộn xộn lắm…Nhờ các anh bổ sung sắp xếp cho hoàn chỉnh…Còn bây giờ, thời gian còn lại, tôi muốn viết một bức thư cho u tôi… U tôi già yếu và đang mong tôi lắm…Nhất định phải an ủi bà cụ….
Mọi người im lặng, có người quay mặt đi.
- Anh Tô, em sẽ giúp anh viết.
- Không, tôi còn tự viết được… Tôi muốn u tôi nhìn thấy nét chữ cuối cùng của tôi… bà cụ thương tôi lắm….
- Tô, cậu nằm xuống đi cho đỡ mệt. Rồi lát nữa viết thư.
Tô Hiệu đã nằm xuống bỗng ngượng nhổm dậy, cố lấy hết sức tàn để nói:
- Các cậu phải tuyệt đối cẩn thận nhớ! Lúc này… chúng mà đánh hơi thấy mình rục rịch chuẩn bị cho… khởi nghĩa vũ trang ngoài kia… Chúng sẽ lập tòa án quân sự “tiêu” mình đi ngay…
- Yên chí, tay phó quản biết lính cho tù mượn súng tập quân sự nhưng cũng làm ngơ đi. Bọn này đã vận động anh ta rồi mà. Buồn cười, lính bản xứ nhà ta lại thích cho anh em mình mượn súng chứ, vừa không bị mất súng, lại vừa sạch sẽ, bớt được cái khoản lai chùi vất vả! Chiều nay, lúc hết giờ làm việc, đợi mãi không thấy mấy “ngài” canh gác đến lấy súng, hóa ra là các ngài đánh một trận thẳng cẳng ở góc đồi, bọn này phải đến lay dậy để cùng về. Vui thật!
Tô Hiệu muốn nói nhưng không thể nói được nữa. Một con quái vật đang cấu xé lồng ngực anh. Nhưng toàn bộ con người anh lúc này đã tập trung vào một điểm chói sáng ở đâu đó trong tâm hồn. Tô Hiệu âu yếm nhìn những người bạn tù thân thiết quá chừng đối với anh. Họ đã sống cùng anh qua những trận sốt rét rừng, những buổi sương mù, những bữa cơm nếp mỡ lợn ghê người, những công việc khổ sai, những lần tuyệt thực, làm reo (grève – một hình thức đấu tranh gần như bãi công, đình công) đòi quyền lợi của tù chính trị… Trong bóng đêm, chỉ cần anh đưa bàn tay ra là gặp những bàn tay xương xẩu của bạn tù riết chặt mãi không rời, truyền cho anh một nghị lực sống mới mẻ. Nhưng đêm nay, Tô Hiệu đã thấy mình khó thở ghê gớm. Anh cố vận dụng những tàn lực cuối cùng để khỏi sai lệch trong cảm giác, để quên đi chút ít sự đau đớn giày vò của cơ thể. Tuy vậy, anh lại thấy mình tỉnh táo lạ thường. Anh biết rõ, đối với anh, đấy là dấu hiệu của sự tận cùng… Thỉnh thoảng lại có tiếng hỏi: “Tô, cậu thấy bây giờ thế nào?” Hay: “Uống nước không?”… Anh chỉ trả lời bằng cái nắm tay vụng về lạnh buốt. Cuộc sống sao cần thiết và đáng yêu! Bóng đêm ghê rợn, sàn xi-măng rắn lạnh, cái nhà tù nặng nề, cả cái chết đang đến với anh, chẳng có nghĩa lý gì hết! Tâm trí sáng láng của Tô Hiệu trong những giây phút đó đưa anh trở về nơi chôn rau cắt rốn – cái làng Xuân Cầu bé nhỏ mà anh xa đã bao năm nay. Ít khi Tô Hiệu có dịp hồi tưởng về quê hương nhiều và da diết như bây giờ. Cái làng có nhiều người phiêu bạt tứ xứ để buôn bán, làm thuê, đi phu. Cái làng phụ nữ nổi tiếng về nhuộm thâm bằng lá bàng và buôn bán giỏi, có đặc sản là thứ bánh mỡ không đâu có. Hồi Mặt trân Dân chủ hoạt động ở Hà Nội, chủ nhật Tô Hiệu hay đạp xe về Xuân Cầu, đánh chim choi choi, bắt chuột đồng, và khi ra không quên đem theo một bọc tướng bánh mỡ cho anh em cùng ăn. Thấy ở trong làng có nhiều em đến tuổi đi học mà không có đủ trường lớp, Tô Hiệu nhân một dịp về thăm quê đã vận động bà con cho tre nứa và góp sức xây dựng trường học. Chỉ trong vài ngày, những lớp học mới đã được dựng lên: chính anh cũng là người chôn cây cột đầu tiên cho đến lúc buộc những nút lạt cuối cùng. Nhà Tô Hiệu mùa nước lụt, nước tràn vào đến nửa vách – sân nhà trở thành một nơi bơi lội thú vị cho bọn trẻ trong làng. Dạo còn học ở trường làng, Tô Hiệu cùng một số học trò tai quái lập nhóm chuyên đi bẻ trộm roi – trong đó có một cây roi lớn sai quả ở trước nhà Tô Hiệu, rồi làm vè chế giễu chánh tổng, kỳ hào. Một lần nhân có người cố nông chết trong làng, nhóm học trò ấy vẽ một cái xác trương phềnh – trên đó là chánh tổng, lý trưởng ngồi ăn uống no say, rồi đem treo ở cổng làng… Những đứa trẻ tinh nghịch đó lớn lên đều đi thoát ly hoạt động cách mạng. Tô Hiệu không thể quên được những gì đã đến với tuổi trẻ nồng nhiệt của anh trong những năm còn là học sinh tiểu học thị xã Hải Dương. Dường như còn vẹn nguyên niềm rạo rực của những người thanh thiếu niên yêu nước buổi truyền tay nhau tờ sớ “Thất điều trần” (Bài văn gồm bảy điều kết tội Khải Định do cụ Phan Chu Trinh viết năm 1922 tại Pháp, nhân dịp Khải Định sang Pháp dự đấu xảo), lúc dự các lễ tang cụ Phan Châu Trinh, cụ Lương Văn Can và đòi thả cụ Phan Bội Châu. Như còn hiển hiện Nam Kỳ chói nắng và Sài Gòn sôi động thời bỡ ngỡ theo anh Tô Chấn vào hoạt động Việt Nam Quốc dân đảng. Rồi ngục tù Côn Đảo. Rồi những năm hoạt động ở Hà Nội và Hải Phòng. Những xóm thợ nghèo anh đã sống… Những tiếng ồn ào, náo nhiệt, những tấm lưng trần bốc vác… Những lần cơ sở bị phá vỡ, lại chắp nối, gây dựng…Và hình ảnh người mẹ hiền từ, nghiêm nghị khắc khổ đã hiện trong tâm trí anh tự lúc nào. Hình như kí ức về người mẹ là nơi quy tụ của mọi ý nghĩ, mọi gian lao vất vả, mọi thể nghiệm, cũng như mọi nỗi buồn vui trong đời một người con. Tô Hiệu bùi ngùi nhớ mẹ… Bao nỗi đắng cay, tủi nhục đã rơi trên mái đầu bạc trắng của bà. Bà là con gái cụ Tán Ngô – cánh tay phải của người anh hùng Bãi Sậy Tán Thuật năm xưa, người đã bị thực dân Pháp kết án khổ sai chung thân và đày đi Côn Đảo vì “tội” yêu nước. Tô Chấn, người con thứ hai của bà cũng bị đày đi Côn Đảo. Tô Chấn tìm cách vượt biển nhưng bè bị đắm… Bu ơi, chắc bu vẫn chờ tin anh Chấn và đếm từng ngày mong con trở về. Có lẽ giờ bu vẫn chưa biết tin gì về anh Chấn. Anh Chấn còn đâu nữa hở bu! Thằng con út ít của bu cũng sắp vĩnh biệt bu ở một góc rừng xa. Chắc bu đang mỏi mắt trông tin những đứa con đi biệt xứ. Con không sao về được nữa rồi để phụng dưỡng thân mẫu lúc tuổi già…Trên bàn thờ, bu sẽ lại khấn thờ cho cha con và hai anh em con. Chắc bu sẽ ân hận nhiều vì không được vuốt mắt cho con, không được nghe lời dối giăng của con chứ gì. Thằng còn út-ít-khụt-khịt cả ngày của bu đang nằm đây, bu ơi! Con hẹn bu sau năm năm sẽ trở về với bu, theo bản án của chúng nó quàng lên cổ một thằng bệnh tật như con. Nhưng làm sao được hả bu?… Dù sao, con cũng mong có ngày trở về gục đầu vào dải yếm bạc phếch của bu, ăn bát canh riêu của bu nấu riêng cho thằng Tô-gầy-còm ăn.
Tô Hiệu chìm trong những kỷ niệm lắng sâu về người mẹ chưa một lần được anh nâng giấc lúc ốm đau… Hồi Tô Hiệu được thả ra khỏi Côn Đảo, anh đã mắc bệnh lao. Trở về làng, anh giấu kín mẹ về bệnh tình. Bà mẹ không hiểu vì sao cứ đến bữa, Tô Hiệu lại ăn bát riêng, dừng hai đôi đũa. Bà thắc mắc và lắm lúc tủi thân. Bà nhiều lần thúc Tô Hiệu lấy vợ, nhưng anh chỉ trả lời bà bằng những câu đùa ý vị, dí dỏm – thói quen từ khi anh còn nhỏ. Rồi bà cũng chẳng thành công trong việc “mối mai” cho đứa con trai út… Những trưa hè nắng như rang như thiêu, một người mẹ già lọm khọm với cái giỏ bên hông bắt cua cáy ở những thửa ruộng chiêm ngập nước. Mắt anh hoa lên những vòng quáng nắng. Cái chõng tre đã lung lay. Cái phiên nhà đã mọt. Cái chổi cùn trong xó bếp lạnh tạnh… Đất nước nghèo trong bùn lầy, vách nát, buồn trong từng câu ca, trong mỗi cái nhìn và mỗi đường gân trên bàn tay răn deo của người mẹ già. Tô Hiệu thấy sống mũi cay cay… Thôi đừng buồn và thương con nhiều nữa bu ạ. Các đồng chí của con sẽ làm nốt phần việc con bỏ dở. Những gì chúng con đã nuôi dưỡng và phấn đấu không thể nào chết được, cũng không kẻ nào vùi dập được… Tô Hiệu bồi hồi và lưu luyến nhìn khắp căn buồng đã chứng kiến những trận ho dữ dội bật máu tươi của anh, những đêm chống chọi với giá lạnh sương muối và cái chết rình mò. Kia là cái cọc sắt gần cổng trại lớn – địch đã bêu đầu một đồng chí ta vượt ngục. Kia là nơi dựng bàn bán “căng-tin” ngày Tết của tù số vuông. Kia là nơi ra báo bí mật “Suối Reo”. Kia là nhà bếp mà ra đã tranh giành được quyền tự xử dụng. Kia là nơi cậu Mạnh đã ngã xuống và để rơi một quả đào ăn dở…Và đây, cây đào của anh, cây đào đã lớn lên giữa bao hằn thù và bao tình đùm bọc. Lòng anh chợt dào lên một tình thương tấm thía, xót xa. Cái hoàn cảnh nó sinh ra và lớn lên thật quá khắc nghiệt! Số phận của nó thật đầy ngẫu nhiên và bất trắc! Nhiều khi chính anh cũng không hiểu vì sao cây đào lại có thể sống được. Trong những ngày anh em tù số vuông bị cuốn vào những cuộc đấu tranh sinh tử, mà anh thì nằm bẹp trên sàn xi-măng, có ai nhòm ngó đến cây đào! Hồi những người tù tuyệt thực bị nhốt dưới hầm ngầm, anh đã dành toàn bộ những giọt nước tiếp tế hiếm hoi cho những bạn tù đang ngắc ngoải – qua một lỗ thông hơi bí mật ở mép đường “cu-loa”. Còn cây đào, lúc đó mới chưa đầy một gang tay, đã không bị héo khô đi cùng với chủ của nó trong cái nắng gắt của tháng Năm, vì may thay, dưới chân tường đá hộc vẫn còn chất ẩm…
Có những đêm hè trời đầy sao và ngập tiếng côn trùng, anh lê ra ngồi bên gốc cây đào nhỏ, cùng nó uống cho thỏa cái vị ngọt lành lạnh của sương đêm. Trong những ngày mùa đông, nhìn cây đào non nớt trụi lá khẳng khiu có một vẻ gì như thách thức nghịch ngợm, Tô Hiệu thường cảm thấy lòng mình chợt ấm áp. Sang xuân, cây đào vào tuổi mới lớn trở nên e ấp, những giọt sương mai đọng trên lá non dịu dàng của nó vẫn làm anh thoáng ngẩn ngơ. Và có những lúc nhìn thân cây bé nhỏ cố vươn lên, bất chấp những rủi may, lòng anh từng se lại vì thương cảm. Đúng là anh đã gieo hạt, thầm mong từng ngày nó nảy mầm, nhưng khi nó thành hình thì chính anh cũng không hiểu mình nên buồn hay nên vui… Tạo ra một sự sống đã khó, nhưng bảo vệ sự sống ấy còn khó hơn nhiều. Và cũng khó chẳng kém việc phải chịu đựng thon thót từng ngày, từng giờ cái ý nghĩ: sự sống ta tạo ra đó sẽ bị hủy diệt không biết lúc nào, còn ta thì sẽ bất lực đến đau đớn! Hàng ngày cây đào vẫn sống bên anh, ít khi anh nghĩ đến sự tồn tại của nó. Nhưng lúc này, anh nghĩ tới cây đào với toàn bộ cảm giác của da thịt và trí não, với toàn bộ tiềm thức. Hơn lúc nào hết anh đang sống với cây đào bằng tất cả nỗi đau của sự sinh thành và li biệt. Cây đào này sẽ là cái nhịp nối giữa cõi chết vĩnh hằng với sự sống lớn lao mà anh mắc nợ; là một hiện hữu vật chất không tầm thường mà dù muốn hay không anh đã để lại cho đời…
Chợt một giấc mơ lạ lùng đến với anh: có nhiều người cầm dao dựa, dao quắm đang mím môi mím lợi giang tay chặt cây đào của anh! Một dòng máu tươi vọt ra cùng tiếng rên rỉ thương tâm làm anh lạnh toát người. Anh thét to lên một tiếng, chạy lại gần, thì thấy trong số những kẻ đó, bên cạnh tên công sứ Cút-xô, tên chúa ngục Ga-bô-ri, tên cai khố xanh, lạ chưa, có cả một vài người đồng chí thân yêu của anh!… Thật đau lòng hơn gấp nhiều lần việc cây đào bị chặt! Mồ hôi toát ra khắp người, Tô Hiệu nhắm mắt lại, lắc đầu liên tục, cố xua đi cái hình ảnh tưởng tượng ghê sợ đó, và cuối cùng ý chí tàn kiệt của anh cũng làm được điều ấy. Rồi, từ cây đào, anh lại miên man trong những cảm xúc và ý nghĩ về các bạn tù – điều đó bao giờ cũng làm cho lòng anh dịu lại… Đã từ lâu nay, binh lính, những người phục dịch và vợ con của bọn quan lớn, quan bé trên cái ngọn đồi “tử khí” này mệnh danh những người tù số vuông là “tù ông, tù cha”, họ tỏ thái độ khâm phục và kính nể không chút giấu diếm. Tính kỷ luật cao độ, sự tôn trọng nhân dân, thái độ bất khuất cương trực trước mọi kẻ quyền lực hống hách, lòng thương người và sự giúp đỡ mọi người vô điều kiện, những bộ quần áo tàng được giặt giũ sạch sẽ và vá víu cẩn thận5, sự thông thạo và ngăn nắp trong mọi công việc lao động… tất cả những cái đó đã được truyền tụng trong dân chúng như những truyền thuyết đẹp đẽ nhất của họ, đã sưởi ấm và rọi sáng cho biết bao số phận u tối, bất hạnh…
Một – thị – xã – nhà – sàn heo hút chìm trong sương chiều. Những ngọn núi mờ lam chướng. Một chiếc thuyền độc mộc tã nát bên sông. Những ngọn lau xám phất phơ, hiu hắt. Những nóc sàn bạc phếch, đơn độc. Một cánh chim đại bàng lượn trên khoảng trời xanh hun hút của rừng đại ngàn. Một con đường đất đá lổn nhổn, nắng chang chang – con đường tù đày. Những công-voa tù xích chuỗi dài dằng dặc. Những lời ca cách mạng vang lên, giọng trầm khỏe, những bàn tay chắp lại giơ cao để cảm ơn và đáp từ lại những sự giúp đỡ, cùng những giọt lệ tiễn biệt của đồng bào đứng hai bên đường Quốc lộ miền thượng du… Những chiếc roi gân bò vụt xuống vun vút. Những khuôn mặt xạm đen kiên nghị và bất khuất ngẩng cao… Cứ mỗi lần hồi tưởng hay nghe những người mới bị đưa lên kể lại những cảnh đó, Tô Hiệu đều thấy rưng rưng một nỗi xúc động khôn tả… Ký ức vụt qua như một cuốn phim đen trắng đầy những hình ảnh tương phản đã kích thích mãnh liệt tâm trí Tô Hiệu. Anh thiếp đi, mê man, hơi thở vẫn không nhẹ hơn một chút nào.
*
Người bó gối, người dựa lưng vào tường. Không gian lặng lẽ. Chỉ còn tiếng thở khò khè của Tô Hiệu là âm thanh duy nhất của khu nhà ngục trong đêm… Chợt một người còn tỉnh ngủ lay ba người kia đang gật gù trong cơn buồn ngủ trĩu mắt.
- Các cậu! Các cậu ơi! Anh Tô… Anh Tô làm sao rồi!
Tất cả choàng dậy, cuống cuồng.
- Tô, Tô! Sao thế này hở Tô? Giời ơi!
Một người ghé sát miệng, mũi Tô Hiệu tìm cái hơi thở khò khè yếu ớt quen thuộc của anh. Một người vội vã làm hô hấp nhân tạo cho anh. Nhưng thân hình Tô Hiệu chỉ còn là một cái xác lạnh ngắt, lạnh như cái sàn xi-măng anh đang nằm duỗi thẳng trên đó. Trời đã sắp sáng.
- Hai cậu ra ngay chỗ gác-điêng, đề nghị được lên gặp “sếp” ngục và công sứ vào sáng hôm sau, yêu cầu họ cho một cái quan tài và những đồ khâm liệm cần thiết, còn tôi sẽ lo điếu văn bây giờ. Báo với họ là chúng ta sẽ cho mai táng ngay buổi sớm – người tù lớn tuổi nhất nói vội vã.
Hai người liền chạy vụt ra ngoài “cu-loa”, đến thẳng đồn canh. Hai người còn lại quỳ bên xác Tô Hiệu. Người tù trẻ – người đã từng một lần tạm biệt Tô Hiệu để tìm cách vượt ngục một mình đang nấc lên những tiếng xé lòng:
- Anh Tô – gày ơi! Sao vội đi thế, hở anh Tô – gày ơi!…
Chợt anh vùng dậy, đứng trên cái sàn xi-măng, đấm những nắm đấm vào mặt tường đá, báo hiệu các buồng và trại giam xung quanh. Người tù kia cũng đứng dậy làm theo, cả hai người vừa đấm vừa kêu lên những tiếng kêu lạc giọng trong sương mù: “Tô…ô…ô chế…t…rô…ồ…i…ì!” Sương mù buông đầy làm mờ ảo mọi cảnh vật, như làm nghẹn lại những tiếng kêu. Cả khu nhà tù bỗng ồn ào, náo động. Những tiếng đập cửa sắt thình thình. Những tiếng la hét khản giọng. Tiếng kẻng ngắn, kẻng dài, tiếng mõ ở tất cả các chòi canh đánh ngũ liên báo động. Những tiếng chân người chạy thình thịch. Bên trại lính khố xanh đã thổi kèn sắp-măng (lệnh tập hợp – Rassemblement).
Một cuộc nổi loạn phá nhà tù như năm 1909 chăng? (Cuộc khởi nghĩa phá nhà tù Sơn La của những người tù yêu nước do Cai Khạt – người Thái Than Uyên lãnh đạo nổ ra năm 1909). Hay có một cuộc đột nhập đánh cướp tù?
Chỉ sau mấy phút, tất cả những người trong khu nhà tù đều biết rõ sự việc. Trong số những người đứng chật cả một đoạn đường “cu-loa”, có mấy người tù thường phạm vào loại “anh chị” đã được Tô Hiệu cảm hóa. Cái chết đột ngột và bi đát của người tù đâu phải chuyện đặc biệt ở chốn được mệnh danh là “địa ngục dương gian” này! Nhưng cái chết của Tô Hiệu mà ai cũng có thể đoán được sẽ xảy ra bất cứ lúc nào khi ái ngại nhìn thân hình xơ xác tiều tụy của anh, lại gây một chấn động lớn trong tâm não mọi người. Những giọt nước mắt lã chã khôn cầm lăn trên những khuôn mặt hốc hác vì thiếu ăn, đói ngủ đang tê dại đi bởi đau đớn xót thương. Những tấm chăn mỏng do anh em tù góp lại cứu Tô Hiệu thoát khỏi mùa đông sương muối năm 43, giờ đang đắp trên cái thân hình gày guộc và cứng đờ của anh. Đám đông đứng ngoài cửa sắt buồng giam Tô Hiệu bỗng rẽ ra hai bên: Một chiếc quan tài sơn đen đã được đưa tới. Những người đại diện nhóm “trật tự ngoài” của Chi bộ đã xin phép cai ngục lên thẳng công sứ Cút-xô đòi tổ chức tang lễ Tô Hiệu. Lúc này, Cút-xô đã biết nể tù chính trị hơn trước. Thời thế đã thay đổi, y không còn dám hống hách huênh hoang như ngày xưa. Bây giờ Cút-xô thường tỏ ra “nhân đạo” với tù chính trị, lấy lòng anh em.
Chiếc quan tài được nâng lên, trôi chầm chậm ra phía cổng lớn. Vài người lính khố xanh bồng súng đứng nghiêm với vẻ mặt buồn rười rượi. Dòng người áo tù loang lổ chữ P.S (Prison de Sonla) chầm chậm bước đi. Hết khu đồi Khau Cả, lại sang một khu đồi khác…
Nơi đây, dưới những hàng phi lao thưa cằn và những gốc ổi hoang dại, bao thế hệ người yêu nước và chiến sỹ cách mạng đã yên nghỉ. Buổi sáng cuối xuân, sương mù đang dần tan hết. Mặt trời lên trên rừng phi lao, rọi những tia nắng mai qua muôn trùng lá nhọn, tạo nên những luồng ánh sáng thanh thoát. Một cái huyệt được đào khẩn trương. Chỉ có tiếng mai, thuổng thình thịch và tiếng chim hót trong trẻo đây, đó. Chiếc quan tài sơn đen được hạ huyệt. Lúc này, người tù trưởng “Ban trật tự ngoài” đã tới, tay cầm một mảnh giấy nhỏ lem luốc, ghi vội những dòng chữ nguệch ngoạch. Tất cả, không ai nói một lời tự động đứng quanh lỗ huyệt mới đào. Một giọng trầm vang đọc lời vĩnh biệt cất lên giữa đám đông lặng lẽ, giữa khung cảnh yên ắng xa vời của núi rừng… Những lời thống thiết từ đáy con tim mỗi người thốt lên. Đó là máu xương, là hơi thở, là mỗi cuộc đời đã sống. Là hình bóng Tổ Quốc hôm nay và ngày mai. Là giọt lệ của người mẹ và những người thân thích. Là lòng uất hận đang chực bùng lên phá tan mọi cảnh bất công, tù đày, nô lệ… Sau một lúc ngừng lại, người tù thay mặt anh em đọc lời vĩnh biệt đã nói những lời cuối cùng:
- Chúng ta xin hứa với đồng chí Tô Hiệu: Quyết tâm giành lại tự do thiêng liêng cho Tổ Quốc!
Người bí thư chi bộ vốc một nắm đất thả xuống nắp quan tài.
- Xin vĩnh biệt người đồng chí, người anh, người bạn yêu quý!
Tiếp sau đó, từng người làm theo. Những khối đất màu đỏ và da cam rơi xuống huyệt mỗi lúc một nhiều hơn… Rồi một tấm mộ chí sơ sài bằng đá mọc lên với những dòng chữ khắc vội: Tô Hiệu. Sinh: 1912 tại Văn Giang- Hưng Yên. Chết: 7/4/1944 tại Sơn La. Những cái đầu tù cạo trọc nham nhở cúi xuống mặc niệm. Không ai có thể nhớ nổi thời gian trôi đi đã bao lâu. Họ không hát Hồn Tử Sĩ: Chiều nay súng vang. Dưới bóng cờ thiêng… Chỉ có tiếng phi lao ru gió xào xạc. Chỉ có tiếng nức nở cố ghìm lại của một vài người đa cảm. Những người tù mà cái chết và bao sự đàn áp khốc liệt, bao nỗi gian lao đắng cay không hề làm nhụt chí, giữa lúc này đây dang chìm trong một nỗi chạnh lòng sâu thẳm, một nỗi xót thương vô hạn… Nhưng không thể đứng mãi ở đây. Bao công việc quan trọng và cấp thiết đang chờ đợi. Phải giành giật lấy thời gian từng phút, giành giật từng hơi thở, từng mạng sống con người. Mỗi người tù số vuông đều cảm thấy một cách rõ rệt những ngày trọng đại đó đã tới rất gần…. Những bàn chân tù lại tản đi khắp nơi làm cỏ-vê, như mọi ngày bình thường.
*
Trong lúc đó, đường “cu-loa” trong nhà tù vắng tanh. Chủ nhân” của nó đã đi xa mãi mãi, để lại cây đào. Lúc này trên cây đào, hoa đầu mùa đã tàn hết, lá tỏa một màu xanh trơ trọi giữa những bức tường đá xám ngoét, âm thầm. Nhưng kể từ năm ấy trở đi, nó sẽ tiếp tục ra hoa như mọi cây đào trong khắp các cánh rừng Sơn La vào mùa xuân. Nó vẫn đang lớn lên từ chân tường kia, dường như không có sự chết chóc nào đã xảy ra xung quanh nó. Chắc hẳn là nó phải ăn rễ thật sâu xuống đất, đợi tới lúc thật cứng cáp, lớn khỏe, mới bắt đầu phá vỡ những mảnh tường đá bên trong để tiếp tục phát triển. Còn bên ngoài nhà tù, trên khắp đồi Khau Cả lúc này không có một cây đào nào – ngoài cây đào ở vườn rau Tòa Sứ nằm dưới chân đồi. (Theo lời kể lại của những người già xung quanh thị xã, cây đào ấy là do một cô gái – được gọi là “con nuôi” của những người “tù áo sạch” trồng trong một lần đi nhặt củi, khi cô đang ở tuổi tranh nhau với lũ bạn chạy đi nhặt những quả còn lạc của các anh chị trong hội ném còn mùa xuân). Nhưng ngay trong năm đó, cây đào trong nhà tù bói lứa quả đầu tiên, những người tù nhớ Tô Hiệu đã ăn quả ở cây này rồi đem gieo hạt quanh đồi Khau Cả khi đi làm cỏ-vê… Từ đó, cứ độ xuân về, những cây đào trên khắp đồi Khau Cả cùng với cây đào trong nhà tù lại nở hoa và kết quả, như sự nhắc nhở thầm kín về một Con Người..

1. Tù chính trị CS, phân biệt với tù thân Nhật đeo số hình thoi.
2. Tức là bệnh sốt rét sưng gan đặc biệt nguy hiểm đối với người tù Sơn La.
3. Paul Verlaine, thi sĩ lãng mạn Pháp thế kỷ XIX.
4. Xanh Pu-lôp tự lấy tên mình đặt cho con đường Quốc lộ 6 hồi làm Công sứ ở Sơn La.
5. Đồng bào các dân tộc quanh thị xã Sơn La hồi ấy (và cho đến cả hôm nay) vẫn quen gọi tù chính trị của ngục Sơn La là “tù áo sạch” vì những bộ quần áo tù bao giờ cũng được vá víu tươm tất sạch sẽ và đặc biệt có thái độ rất hòa nhã, gần gũi, thông cảm sâu sắc với dân nghèo…
____________
Hiện giờ, cây đào này được gọi là “Cây đào Tô Hiệu”, ở ngay sát phòng giam ông Tô Hiệu, nằm trong di tích lịch sử Nhà tù Sơn La – là nơi đang hàng ngày thu hút nhiều đoàn khách các lứa tuổi của nhiều địa phương toàn quốc tới tham quan, nghiên cứu. Đã có nhiều người viết về cây đào này (kể cả người nước ngoài ), và tất cả đều cố gắng tìm hiểu lai lịch thật sự của nó. Song việc gắn nó với ông Tô Hiệu- trong hầu hết các trường hợp chỉ thuần túy mang ý nghĩa biểu tượng, thậm chí, có những cựu tù nhân chính trị ở Sơn La đã phủ nhận sự tồn tại của cây đào có từ trước Cách mạng, hoặc khẳng định rằng: nó không phải là do ông Tô Hiệu trồng! Vậy sự thật ở đâu? Tác giả thiên truyện lịch sử này, sau nhiều tìm hiểu, cân nhắc, qua nhiều nguồn tư liệu điền dã- đặc biệt là qua một người số người từng là cai, đội, quản cũ của trại lính khố xanh có cảm tình với tù chính trị (nhất là phó quản Mười- sau là nhà thơ, nhà giáo Lò Văn Mười sống ở Thuận Châu), đã đi đến một phương án lý giải khá chắc chắn: cây đào này đích thực là do ông Tô Hiệu trồng. Tuy nhiên, sự thực cuối cùng vẫn đang còn chờ đợi các nhà văn, nhà nghiên cứu lịch sử…

(Nguồn: tập truyện lịch sử: “Người tù áo sạch”- NAT- Nxb Thanh niên, 1993)

About The Author

Number of Entries : 2313

Leave a Comment

© 2011 Powered By LenStudio.Net

Scroll to top